- Ca dao
- 1. Tự ti là trạng thái mà con người cảm thấy mình kém cỏi trước người khác về một cái gì đó. Do vậy mà người ta hay thu mình, không dám thế hiện mình trước người khác. Tự ti là một biểu hiện tâm lý mặc cảm về thân phận, không dám thi thố, tranh luận.
- 2. Người có tính cách này thường ít và chưa thành công trong cuộc sống. Trở ngại lớn nhất của tính cách này là khiến người ta rất khó hòa nhập vào cộng đồng, tập thể.
- 3. Tự ti mang tính tương đối, nghĩa là có lúc trong lĩnh vực này thì người ta rất tự ti, ngược lại lĩnh vực khác thì không. Thông thường cái gì người ta quen thì người ta không tự ti và ngược lại.
- 4. Tự ti cản trở rất lớn đến sự phát triển của con người là vì nó hạn chế các mối quan hệ giữa con người, khiến việc học hỏi, trao đổi, hiểu nhau giữa con người diễn ra rất khó khăn.
- 5. Tự ti không những ảnh hưởng đến tinh thần, thái độ mà còn ảnh hưởng đến thể chất. Tóm lại, là nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển nhân cách của con người.
- Có sự lan truyền tính cách giữa người này với người khác.
- Sự cấm đoán vô lý, khiến người ta không dám làm gì cả.
- Sự kém cỏi của người nuôi dưỡng, giáo dục.
- Cần phải biết tự giáo dục mình, nếu ai đã mắc tính này. Thiết nghĩ ai cũng ít nhiều có sự tự ti.
- Giáo dục cho người khác hãy biết tự tin.
- Bài hát mùa thu
- Cháu nội Dương thu Trang
- Anh chau nội Dương Minh Thành
- Ảnh chup ở ngày thơ Việt Nam Xuân 2010 "Thủy Nguyên"
- CHỢ TÌNH
- Cháu nội Thu Trang
- ông chau tắm
- ông chau tắm
- Chùm thơ -Tâm tư - Dương Xuân Huynh
- Nỗi nhớ Tháng Tư Dương Xuân Huynh
- Về Hoa Lư -Dương Xuân Huynh-
- Kỉ niệm Hà Nội
- Mùa hoa
- Mùa hoa
- Kịch độc " Chuyện ngắn Lương văn Chi"
- Phan Quang Vinh Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Duy đã sáng tác ra một bài...
- Dương Xuân Huynh Cám ơn bạn có lời chúc tốt đẹp cho ông cháu tôi
- Hoài Khánh Chúc mừng ông nội đã có cháu gái ngoan ...
- Cẩn Xuân H ơi ! Kẩn nợ XH mấy cái ảnh chưa đem về Hp được.Chuyển qua Email...
- Dương Xuân Huynh Cám ơn Hoài Khánh đã chúc mừng thăm
- Hoài Khánh Chúc mừng anh có bài thơ mới!
- catbien Truyện ngắn này đang có ý định dựng thành phim đấy anh Huynh ạ. Chúc...
- Lê Văn Cam Kính gửi nhà thơ Đặng Xuân Giang Đã tạo điều kiện để tôi đến...
- Dương Xuân Huynh Đã vào Thăm Dương Xuân Huynh Và đã có lời chúc Tốt đẹ và lại có những...
- Hà Vân "Ðêm ấy Hà Nội không ngủ Lính pháo phòng không đã nhiều đêm thức...
- Quách mỵ Dung Mình vẫn ước trồng hàng cau trước cửa Gơ giàn trầu trong mảnh...
- LángHạ "Xắt mỗi lát gừng lưỡi dao rưng rưng bẩy hay chín hay là ba lát...
- Hoài Khánh Anh chuyển lời chia buồn một lần nữa của HK tới anh Nguyễn Siêu Phàm.
- Phương Mai Qua Tiếng chim Xanh cho tôi gửi tới nhà giáo lời chia buồn tới gia đình và...
- thanh thuy Ghé nhà bạn viết lại gặp bài :Cây bồ đề ở nghĩa trang trường sơn .TT...
- Duơng Xuân Huynh Đừng bận tâm Hoài Khánh ạ ,tính xấu chưa hết hẳn trên đời ,người...
- Hoài Khánh Trưa nay lại có kẻ mạo danh HK nhẩy vào nhà mọi người nói bậy bạ. Chán...
- Dương Xuân Huynh Chào Hoài khánh ,cám ơn nhiều mình sẽ cố gắng và sẵn sàng
- Hoài Khánh Anh chuẩn bị ra HP để tham gia chương trình thơ truyền hình về 27-7 nhé. Khi...
- Hoài Khánh Bài này HK nghe anh đọc một lần rồi trong chương trình thơ xuân 3 năm...
- Dương Xuân Huynh Cám ơn anh đã có lời chúc tốt đẹp ,Chim Xanh mong anh năng lại chơi với...
- PHÙNG PHƯƠNG QUÝ- PHÚ THỌ CHÚC ANH EM BẠN HỮU HAI PHÒNG VƯƠN TỚI TẦM CAO MỚI TRONG SÁNG TÁC
- Hoài Khánh Bên nhà HK vừa post ảnh của Lê Minh Thắng chụp cảnh BCH mới ra mắt sáng...
- Duong xuan Huynh ok
- Hoài Khánh HK đã nhận được mail của anh. Việc đó chưa vội đâu mà. Mãi cuối tháng...
- Hoài Khánh Đầu tuần HK sang thăm và chúc anh vui khỏe, hạnh phúc.
- dương Xuân Huynh cam on Lê bá Duy đã chia se
- Lê Bá Duy vào nhà anh đọc được những thông tin bổ ích. Chúc vui nhé.
- Hoài Khánh Chúc anh cuối tuần vui khỏe, hạnh phúc!
- lecong Lâu rồi đi xa không comment được. Nay vừa về vội vào thăm chim xanh đây....
- Chung
- Tổng số bài viết: 102
- Tổng số góp ý: 100
- Tổng số trackbacks: 0
- Tổng số lượt xem bài: 7.056
Đã mấy đời cây
Làng chùa thiêng từ hồi có người con gái bị ma làm đến sáng
Ngưòi con trai say khướt men tình
Cái sân hợp tác hoang phế kề bến thuyền thả bè rau
Quả bom thui làm kẻng
Làng đã chứng giám tuổi em cô bé lọ lem
Núm rau em chôn ở đó
Mẹ chân bùn áo vá tấm ảnh treo trên tường mờ tỏ hồn người
Không còn mấp mé chân tre phù sa sánh cập kề
Chú cáy đỏ dương đôi mắt đen thập thò nhút nhát
Lũ bạn gái cùng lớp giờ tao tác đi đâu về đâu ...!
Đứa sang giàu xênh xang công chức đứa phiêu bạt xứ người lấy ông chồng già làm nghề cắt tóc
Ngày tết nhất không thấy nó mặt bàn thờ tổ tiên hương khói
Em con chím sâu ngõ ngách cuộc đời ,góp tiếng hót nhỏ nhoi buổi sáng
Anh giờ là ông giáo ngày xưa có tiếng nhát gái
Thế mà cái đêm trăng trắng
Đường về làng chỉ có anh mà em sứt ba khuy áo
Em giận dỗi anh vội đền nụ hôn nóng hổi
Em thả mình xuống có bủn rủn chân tay
Năm ngón tay người con trai len lỏi vào giấc mơ
Nước miên man lan toả khắp mình liếm lên da em râm ran bầu sinh lực
Anh bắc chiếc cầu vồng em quơ tay chới với
Tiếng thì thào bên tai em như gió
Ai xui anh xin lỗi mủi lòng vào sâu thẳm hồn em
Không hiểu thế là tình yêu hay tình dục dấu ấn đầu đời
Về làng chùa tìm lại chiếc nôi chao nghiêng ngả
Không gặp khói rơm rạ đốt đồng mà sao mắt cay
Em xâu mùa lá heo may thành nốt nhạc
Gom mảnh tình làm bài hát gửi mùa thu
NTX
Em là Đức Mẹ Đồng Trinh của anh.
Anh mới đọc một lần thôi và gửi cảm nhận ngay đến em : bài thơ hay quá. Hình ảnh thơ thật đẹp, nó như là hoài niệm của anh vậy và cũng đẹp như một giấc mơ huyền ảo như ánh trăng, như là mùa thu, như là hương vị của tình yêu quê hương. Em ở đâu ? Em hay chính là người yêu đầu đời của anh ngày ấy? Ôi cái sân hợp tác hoang phế ngày xưa ! Ôi cô bé lọ lem của anh ngày xưa ! Ôi cái bè rau muống ngai ngái hương bùn của của quê hương anh ngày xưa ! Xoan a. ! em đã nói đúng cái hồn cốt của anh, một thày giáo làng nhát gái nhưng mà khi yêu thì cũng đắm say phong tình nghiêng ngả chẳng kém ai. "đường về làng chỉ có anh mà em sứt ba khuy áo". Em nói hay quá ! Không thể nào thơ hơn khi em biểu hiện được niềm đam mê bản thể tự nhiên của tình yêu, cái khát vọng sinh tồn thật đắm say của tình yêu một cách thanh nhã. "chỉ có anh" cũng có nghĩa là chỉ có anh và em trong một bầu không gian yên tĩnh đủ để riêng tư cho sự hoà quyện hiến dâng. Anh cảm ơn em, em phì nhiêu, em toả hương, em trinh trắng, em tràn đầy sức sống, em là Đức Mẹ Đồng Trinh của anh
Nguyễn hữu Kiên
CHỢ TÌNH - Thơ : Nguyên Lâm Cẩn-
Đổ dồn...
Về chợ Khau Vai
Núi oằn lưng núi
Đường dài căng ra
Chân mài trên đá xuýt xoa
Mắt đêm ươn ướt
Sương lòa nhòa sương
Năm chờ năm
Vướng tơ vương
Nhớ san sẻ nhớ.
Sầu thương bớt sầu
Bến xưa khơi giọt tình đầu
Khèn quay gọi bạn trên cầu chênh vênh
Cao nguyên thả gió bồng bềnh
Cho nghiêng ngả núi
Cho gồng ghềnh non
Lời thề khắc giữa chon von
Khau Vai một tối
Đá mòn
Ngẩn ngơ...
Đêm tình rót cái chơ vơ
Gối êm
Núi sụt
Thẫn thờ
Ngày lên...
Khau Vai 9-5-2010
ước gì ...
Về đền Hùng thắp hương Tiên Tổ
Bao người dâng lễ dâng sớ xin lộc Vua ban
Con thắp nén tâm nhang
Xin người điều ước
ước gì mẹ còn sống
Để con dẫn mẹ đi hội đền Hùng
Cởi vui buồn ở lại
Để mẹ nhẹ nỗi lòng....
....
ước gì mẹ còn sống
Để thấy con mẹ trở về
Đứa con làm mắt mẹ đỏ hoe
Ngày nó đi B
Đêm mẹ cầu nguyện
ước gì mẹ còn sống
Bước cùng ríu rít cháu con
Đền hùng bậc lên hồng phúc
Về đây con Lạc cháu Hồng
ước gì mẹ còn sống
3/2010
Tâm tư
Trời cho mình sống để yêu
Chưa biết đủ- đã đủ điều đắng cay
"Buồn vui gió thoảng mây bay
Lòng không xao động tháng ngày thong dong"*
Rồi mai nước đổ về sông
Chim bay về núi đôi dòng tâm tư
Thôi còn gì nữa mà mơ
Thôi còn gì nữa mà chờ mà mong
Tóc mình giờ đã mây bông
Chỉ còn hai tấm lưng còng tựa nhau
Nhẹ nhàng thôi kẻo lại đau
Thân này đã nguyện thương nhau trọn đời
Đêm tháng 5 /2010
Dương Xuân Huynh
Tìm hơi ấm
Thế là người bỏ đi
Không cùng ta nhặt lá vàng
Ngã ba này vắng một ngưới sang
khi ta về
Sáng lên ánh mắt
Ngôi nhà xưa người cùng ta thường nhật
bát gạo mớ rau ngọn lửa
Bữa cơm đèn
Sấp ngửa mưu sinh
Người đi
bếp thành quả phụ
Ta thành lãng du
Một hơi cơm chia cả ba mùa
Người đi đè lên vai ta gánh nặng
đôi vai tháng ngày chỉ quen gánh chữ nghĩa nhọc nhằn
Dàn hoa giấy nhà mình nở màu nhung
Vắng người
Ta gọi lên màu nhớ
Hàng cau truớc cửa
Chim không về
Lũ cháu con đủ lông đủ cánh bay đi
Đêm trở lạnh
Ta trở mình tìm hơi ấm
Huynh07 tháng 5 2010
Nỗi nhớ Tháng Tư
Không có buổi chia tay Tháng Tư
Sao nhớ anh đến thế
Ngày anh đi
Lúa đang thì con gái
Đò đưa giằm nhớ thương
Nóng bỏng trang thư
Chiến trường khói lửa
Tháng tư anh không về nữa
Lúa nghẹn đòng chân ruộng thấp cao
Ve oà lên thét gào
Em cạn chiều nước mắt
Sau cơn mưa
Trời quê trong vắt
Nắng thắp sáng vòm xanh
Thị trấn mở dài tận bìa sông
Vẫn bờ tre
Ngọn uốn cong
Dấu hỏi ngàn đời cò đậu
Vọng về nỗi nhớ Tháng Tư
Tháng tư kỉ niệm
Về Hoa Lư
Đi gần hết đời người mới tới Hoa Lư
Thực hay mơ
Cố Đô thức dậy
Nghe đâu đây loảng xoảng gương khua
Sông Sào Khê in bóng cờ Lau
Núi Mã Yên quân reo dậy đất
Dẹp Tống, bình Xiêm
yên bờ cõi
Danh thơm để mãi muôn đời
Du khách ngẩn ngơ
Bài học sử
Ngàn năm nước mắt
Còn rơi
Ngoài kia rộn rã Tràng An
Nước biếc non xanh , du thuyền thơ mộng
Âm vang lời "Chiếu dời đô"
Đền thờ Vua
Phảng phất hương hoa
Vàng mã kim ngân
Cúng tiến
Khói nhang lãng đãng người xưa
Trải lá làm bàn
Cành cây làm đũa
Về đây dùng bữa cơm chay
Cùng người đạm bạc
Nhớ ngày vàng son .
Thanh minh /2010
Kỉ niệm Hà Nội
Ðêm ấy Hà Nội không ngủ
Lính phòng không đã nhiều đêm thức trắng
Phố còn người già trẻ em chưa kịp sơ tán
Loa phóng thanh báo tin máy bay địch vào gần
Hà Nội căng như sợi dây đàn
Em cùng đội tự vệ nhà máy in Tiến Bộ vào tiếp đạn
Sau trận đánh em cho tôi địa chỉ
Nhà em ở phố Khâm Thiên
Có đêm Hà Nội bình yên
Hoa sữa dịu hương
Đường Xuân Diệu
Quả sấu rơi theo định luật Niu -Tơn
Em và tôi và trăng Tây Hồ lung linh huyền ảo
Đã quá mười giờ rồi tôi phải chia tay em
Nước mắt em trên má tôi nóng hổi
Rồi Hà Nội mười hai ngày đêm
Hà Nội Ðiện Biên Phủ trên không
Những con rồng lửa từ mặt đất vút lên
Hà Nội ầm ầm sấm dậy
Trong ánh chớp tôi thấy em xuất hiện
Có em thêm sức mạnh
Pháo đài bay bỏ xác trên đất Ngọc Hà
Ngày tôi đi xa
Mỗi khi nhớ nhà tôi thầm hát Bài ca Hà Nộị
D X H
Yên Tử
Yên Tử gió
Yên Tử mây
Yên Tử xưa Vua về đây
Bàn dân thiên hạ về đây
Mô Phật
Dấu chân ngàn năm thành bậc
Đá ngâm ngàn năm hoá nhũ
Nước mắt ngàn năm thành rêu
Cửa thiền ngày một rộng mở
Chùa giải oan mỗi năm mỗi đông
Ngàn năm một
Dáng Chùa Đồng
Lên đỉnh Phù Vân
Trúc vi vút
Gió u - u - minh- minh
Bậc đá chênh vênh
Tiếng chuông tiếng khánh lên trời
Có không , không có, đạo , đời mây bay
Chiều nghiêng Yên Tử
Cõi thiêng ảo mờ
Lòng trần rũ bụi
Người xưa bây giờ
Dương xuân Huynh
Mùa hoa
Má hồng ửng nắng thắng hai
Tiếng chim ấm bụi tre gai vườn nhà
Nhớ người vun thắm mùa hoa
Đường quê níu bước người xa tìm về
Xuân 2010
Rét lộc
Tháng giêng rét ngọt môi em
mưa bay lất phất xanh mền cỏ hoa
Mạ chiêm dặm cóng tay bà
Đất trời rét lộc lòng ta rét đài
Xuân2010
Nhân dịp xuân mới Tiếng chim xanh xin chúc cộng đồng blog Việt lời chúc Xuân mới an khang thịnh vượng hạnh phúc
Mùa hoa
Má hồng ửng nắng thắng hai
Tiếng chim ấm bụi tre gai vườn nhà
Nhớ người vun thắm mùa hoa
Đường quê níu bước người xa tìm về
Xuân 2010
Rét lộc
Tháng giêng rét ngọt môi em
mưa bay lất phất xanh mền cỏ hoa
Mạ chiêm dặm cóng tay bà
Đất trời rét lộc lòng ta rét đài
Xuân2010
Lương Văn Chi
Sinh ngày 23/10/1955 tại làng Hành Thiện, Xuân Hồng, Xuân Trường Nam Định
Quê quán : Thôn Mi Điền, Xã Hoàng Ninh, Việt Yên- Bắc Giang
Hội viên hội nhà văn Hải Phòng 1985.
Địa chỉ : 12 ngõ 31 phố Đội Văn, Trại chuối Hải Phòng
Đ/thoại: 0313824926 - 0919824926
Email: Luongchi.hp@gmail.com
Kịch độc
Lương Văn Chi
Truyện ngắn
Chiếc gường cót két như tiếng kêu rên quá tải, không át nổi bản nhạc chuông, báo có cuộc gọi đến của chiếc máy di động để ở đầu giường. Buông cả hai tay đang ôm vai người đàn ông nằm trên, một tay với máy di động, tay còn lại, Thuần đặt dọc ngón trỏ vào giữa đôi môi ông ta, ý ra hiệu im lặng để cô đàm thoại, kịp chặn đứng một câu lầu bầu vì bị mất hứng, suýt văng ra từ miệng ông khách.
- Chịu khó chờ em một tý- Thuần khẩn khoản- Ai mà lại vô duyên thế nhỉ, gọi đúng vào cái lúc...!
Tuy không bật loa ngoài, nhưng tiếng nói của người đàn ông trong máy khá rõ, làm cho ông khách nẩy sinh tò mò rồi nằm im.
Như sợ tốn tiền, người đàn ông phía đầu dây bên kia nói gấp gáp:
- Thuần đấy à, bố đây! Tối nay con về nhà ngay nhé! Chú Định đòi bồi thường vết thương đủ 20 triệu mới rút đơn kiện! Chú không thèm nói chuyện với ai trong nhà mình, kể cả bố, mà chỉ khăng khăng đòi gặp con! Thế nhé, về ngay con nhé!
Ở đầu kia, bố Thuần cúp máy, không để Thuần nói lại lời nào. Thuần thẫn thờ, vất chiếc máy di động xuống giường.
Ông khách, một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, đủ kinh nghiệm cảm nhận được Thuần đang bị " choáng ". Thân thể Thuần lúc này khác gì một cục thịt thiu. Chính bản thân ông ta cũng bị phản cảm. Có cố kỉnh vận động trở lại , thì cuộc vui đơn phương ấy cũng chỉ làm ông thêm mệt. Ông trườn khỏi bụng Thuần, nằm vật ra bên cạnh, cáu kỉnh :
- Sao em không tắt máy?
Câu nói khó chịu của ông khách buộc Thuần phải trở lại công việc. Thuần lật người, áp môi vào má và quàng tay qua ngực ông khách thủ thỉ:
- Em xin lỗi! Chuyện buồn gia đình ấy mà! Cố lên, em chiều...!
- Thôi, mất hứng rồi!- Ông khách ấm ức.
Đối với Thuần, đây không phải lần đầu tiếng chuông di động vang lên làm gián đoạn cuộc bán mua. Biết vậy, nhưng cô không thể tắt máy, dù điều đó dễ làm khách bực mình. Thường thì, tiếng chuông vang lên có lợi cho Thuần, bởi nó là tín hiệu mà bà chủ quy ước, nhắc cô bằng kinh nghiệm trong nghề, vô hiệu hoá ý đồ kéo dài cuộc chơi của khách, tranh thủ thời gian để tiếp nhận ngay một "ca" mới: một ông khách mới đến đang nôn nao, nhấp nhổm ở quầy bar chờ đến lượt, hoặc chạy sô sang quán bên cạnh, khi bà chủ bên kia điện sang mượn người vì thiếu tiếp viên.
Ông khách đã ngồi dậy, rời khỏi gường và mặc quần áo. Biết ông này là người hiền lành, mất hứng cũng không quát tháo nhặng xị, Thuần ngồi dậy theo, ần cần cài giúp ông mấy khuy áo, kéo lại cái thắt lưng da để khuy cài nằm đúng giữa bụng, rồi an ủi:
- Thiệt cho anh quá! Lần sau đến, em bù!
Thực ra, Thuần rất thích những ông khách trung niên, tầm tuổi cỡ bố cô trở lên. Giữa cuộc chơi, khi khoái cảm đã lên đến đỉnh, họ cũng không ngấu nghiến, ghì xiết như muốn bóp bẹp cô ra một cách thô bạo như lũ trai trẻ. Thậm chí có người còn cao hứng, "bo" thêm cho Thuần cả một phong bì còn dán kín, vốn là xuất của họ trong những cuộc họp thường xuyên nào đó, mặc dù cô không xin.
Ông khách vuốt lại mái tóc, ngắm nghía cân chỉnh tác phong của mình trước gương rồi giơ tay với chiếc cặp da để trên mặt tủ đầu giường. Thuần vội mở cửa phòng, đặt thêm lên má ông ta một cái hôn, nói vuốt đuôi:
- Nhớ nhé, lần sau đến , em khuyến mãi!
Còn lại một mình, Thuần ngồi tựa lưng vào thành giường, hai bàn tay đan vào nhau ôm lấy hai đầu gối, tập trung ý nghĩ để phán đoán, đặt ra những tình huống mà cô sẽ phải đối mặt với ông chú ruột qua thông tin từ cuộc điện thoại của bố. Không muốn lên quầy bar để nhận tiền "bo", mặc chăn gối rơi toé loe dưới nền nhà.
Cái việc thằng Tâm em trai Thuần dùng dao rựa chém chú Định hai hôm trước tưởng giải quyết đã ổn. Chính Thuần, khi nhận được tin dữ đã cầm ngay một triệu, vốn là số tiền đi khách gom góp từ đầu tháng đến thẳng bệnh viện chi trả tiền chiếu chụp, khâu vá, bông băng. Thậm chí cả xe tắc xi chở chú Định đi về. Những việc còn lại, như bố Thuần nói, thằng Tâm còn dại, chú cũng như cha, việc trong nhà, chắc chú Định không chấp. Yên tâm, Thuần trở ra phố kiếm tiền.
Ai ngờ bây giờ chú doạ kiện cáo, lại còn ra giá hai mươi triệu bồi thường mới chịu rút đơn. Mà chú thừa biết nhà Thuần, một dạng dân quê kém cỏi, đào đâu ra hai mười triệu để đền cho chú.
Thuần thoáng giật mình. Đã bốn năm, bố mẹ và người làng chỉ biết Thuần ra phố làm công nhân giầy da, một công việc khá hấp dẫn với những gái quê như Thuần. Liệu có phải tháng trước cô cho tiền bố mẹ láng lại cái sân đất lầy lội, mốc meo bằng xi măng cát, thay nền nhà bằng đá hoa Trung quốc và lắp một máy điện thoại cố định. Những chi tiêu đó của Thuần phải chăng đã mách bảo cho mọi người biết rằng: cô làm ra nhiều tiền. Dân quê hay soi mói, mới vài năm đi làm cho một công ty ẩm ương, vài trăm nghìn đồng lương tháng, lại nhỡ việc luôn luôn, Thuần lấy đâu ngần ấy tiền cho bố mẹ làm được ngần ấy việc trong một lúc? Không khéo chú Định đã biết cô ra tỉnh làm điếm, quyết ra tay điểm huyệt, mượn cớ ăn vạ, khăng khăng bắt bố gọi cô về, để cô bịt miệng chú bằng hai mươi triệu. Nếu đúng vầy thì Thuần sẽ tính chuyện với chú sao đây?
*
Chẳng biết may mắn hay vô duyên, chỉ cách thành phố chưa đầy 15 km, làng quê Thuần vẫn giữ được sự yên ả, kiều làng quê Việt Nam mấy chục năm về trước. Cho dù đất nước mở cửa đã lâu, chẳng có một công ty liên doanh liên kết nào tìm về đất này toạ lạc. Mỗi lần về quê, đến gần cổng làng, Thuần thường đạp xe chậm lại. Cô muốn nhìn thật lâu biểu ngữ "Làng văn hoá" chữ vàng nền đỏ căng ngang cổng chào. Chỗ ấy, thời niên thiếu, Thuần cùng đoàn học sinh váy xanh, áo trắng, cổ tung bay khăn quàng đỏ, bước đều trong tiếng trống ếch nhịp ba, giưa rừng cờ hoa cùng cả làng ra đón biểu tượng cao quý này. Niềm tự hào về quê hương mình còn mãi trong lòng Thuần, nghĩ đến là tim cô đập nhanh hơn, người râm tan như kiến đốt. Chả thế mà mỗi khi "thấy tháng", không đi khách được, Thuần thường về quê, tránh được mấy ngày nhộn nhạo của thành phố, giúp đỡ bố mẹ vài việc đồng áng, tích luỹ sức lực, chuẩn bị cho những cuộc vật lộn hai mấy ngày sau.
Thuần dự định, khi kiếm được một số vốn, con người cô đã rạc dài, Thuần sẽ bỏ nghề về quê sinh sống. Dưới luỹ tre xanh làngThuần là một vùng đất thanh bình, tàng ẩn trong đó là một lớp thợ cày có học, được tôi luyện trong thời kỳ hợp tác hoá, cơ mưu và bản lĩnh.
Ngày Thuần đang học lớp 5, nhân lúc thím Định đi vắng, một bà buôn sắt vụn đi qua. Chú Định gọi vào, chỉ góc vườn khuất sau nhà nói: dưới đất có chôn vỏ nửa quả bom, vốn là cái kẻng thời hợp tác xã quê Thuần còn đang hùng mạnh vào loại bậc nhất tỉnh nhà, chú ăn cắp và chôn tại đó. Chú quơ cành chè rào vạch trên mặt đất một hình chữ nhật rộng cỡ cái chiếu đơn, đánh dấu vị trí. Tưởng thật, bà sắt vụn cầm cuốc bổ cật lực. Khi đào rộng bằng lỗ huyệt và sâu cỡ hai gang tay, bà chè chai thấm mệt, chống cuốc đứng thở. Bất ngờ, chú Định từ đằng sau xông tới, vật ngửa bà ta nằm gọn trong lỗ vừa đào, một tay lột quần. Cũng may, bà chè chai khá khoẻ, mặc dù nằm dưới bà ta vùng vấy bổ ngược cái cuốc vào mông chú, miệng la làng kêu cứu. Vài người xúm đến, bà ta được giải thoát. Việc này sau trở thành giai thoại. Bất cứ bờ tre, gốc đa người làng ngồi túm năm tụm ba, thầm thì to nhỏ với nhau, thỉnh thoảng lại đồng thanh phá ra cười rũ rượi. Chuyện này lan sang các làng lân cận, trở thành nỗi sỉ nhục của họ tộc nhà Thuần, đến nỗi, mỗi khi đến trường, mấy đứa bạn cùng lớp ồ lên: " Đi buôn sắt vụn nào" Thuần đã thấy chạm nọc, liền tìm cớ lủi biệt.
Một thời gian sau, vào lúc nhá nhem tối, chú Định đi ngang qua bờ dâm bụt của nhà hàng xóm bỗng nghe thấy tiếng nước dội ào ào. Chú vạch bụi dâm bụt nhìn vào: cái nhà tắm được quây tạm bợ bằng cót, thủng một lỗ như cái rá, phơi ra toàn bộ phần kín đáo nhất của thân thể bà hàng xóm. Người rạo rực như phát sốt, hai đầu gối như bị rút gân quỵ xuống, chú lách bụi dâm bụt bò vào. Không may cho chú, con chó lai Nga ngửi thấy hơi người lạ, từ trong nhà phi thẳng ra bụi dâm bụt sủa ngậu lên. Chú Định lồm cồm lùi dần, rồi chạy. Con chó phóng theo đớp một miếng chí mạng vào bắp chân chú, kéo xoạc một mảng quần. Ngày hôm sau, nhìn chú tập tễnh vác cày ra đồng, bà hàng xóm nổi đoá, chõ thẳng vào mặt chú, cứ "Định dê" mà chửi, rồi cho chú ăn no nê, thoải mái, những thứ mà đàn bà, con gái một tháng mới "chiết xuất" ra được một lần. Cái tên "Định dê" bắt đầu từ đó.
Lại một thời gian nữa, cái con điên đầu tóc bù xù dính cả lá bánh, cọng rơm, giấy gói kẹo, quần áo cũn cỡn, rách tua rua như bị cá rô đớp, phơi ra cái rốn lồi, đen nhoẻn như lõ loa, ngày ngày xin ăn ở chợ làng, tối về thì chui vào miếu thổ thần để ngủ, bỗng mang thai. Nhiều người phát hiện dạo này chú "Định dê" lại sắm đèn soi ếch., đêm đêm thường đi về hướng miếu, cả những đêm không mưa. Người làng lại túm năm tụm ba, bàn tán xôn xao tác giả bào thai đích thị là chú Định của cô.
Cái máu chơi gái kiểu "ma bùn" của chú Định có đất dụng võ, khi cái thị trấn cách làng Thuần hơn cây số mọc lên mấy quán karaoke và thư giãn đấm lưng, thực chất là những nhà chứa trá hình nhằm phục vụ cho con em nông dân các làng lân cận. Để phỉ chí tang bồng, chú Định bỏ ruộng lên thị trấn thuê nhà, bên ngoài bán nước, bán đề, bên trong mở mấy chiếu bạc cho các cụ trong Hội người cao tuổi thị trấn có nơi kín đáo mà sát phạt nhau sau những cuộc hội họp để thu hồ. Có tiền, chú thả sức ăn chơi. Mấy chục ả ca-ve của những quán quanh đó chú đã "xài" hết. Thèm "hàng" mới, một tuần đôi ba lần chú phóng xe ra thành phố, vô tình mò cả đến quán Mỹ Duyên, nơi Thuần làm gái từ ngày ở quê ra.
Một lần, sau khi đi khách xong, cô cầm tiền bo định đi lên quầy bar thanh toán với bà chủ, bỗng Thuần khựng lại bởi tiếng nói ngàn ngạt của người bị bệnh hen mãn tính nơi phòng chính. Qua cửa sổ, Thuần thấy chú Định đang ngắm nghía, bẹo má mấy chị em cùng làm. Mặt Thuần hết máu, trắng bệch, thân thể nhũn ra như cây mùng héo. Cô nín thở, lùi vội vào cái buồng bỏ không, nơi chứa mấy cái gường gãy và máy bộ đệm rách. Chờ cho chú Định đưa gái vào phòng, Thuần mới lẻn ra, nói dối bà chủ quán là có việc gấp, rồi dắt xe phóng thẳng về nhà trọ, nghỉ hẳn, không dám bén mảng đến quán Mỹ Duyên cả ngày hôm đó.
Rất may cho Thuần, mấy ngày sau đó, xới bạc chú Định bị công an phục kích bắt quả tang. Ngoài nợ nần chồng chất, chú phải chịu cái án phạt tù một năm rưỡi. Con đường ăn chơi trác táng của chú Định tạm thời khựng lại.
Ra tù, chú Định đi thẳng về nhà mình, ngủ đẫy một đêm. Sáng hôm sau chú lấy ở góc bếp một con dao rựa đã han rỉ. Chú mang ra bờ ao, nơi có cái thớt trên của cái cối xay bộ bị vỡ vẫn dùng làm đá mài, hùng hục mài suốt một buổi sáng, cho đến lúc sáng loáng mới thôi. Chú xách dao đi thẳng sang nhà Thuần, đứng sững giữa cửa, trong lúc bố Thuần đang ngồi bên bàn nước, tuyên bố một câu xanh rờn:
- Việc chia đất của các cụ ngày xưa là bất hợp lý. Không lẽ nào vì cái chuyện anh chui ra trước tôi, đã được ở phía ngoài lại còn được thêm 20 mét bờ tre chạy dọc đường làng. Tôi lấy lại năm mét để mở cái quán kiếm ăn.
Chẳng đợi bố Thuần đồng ý, chú Định đi thẳng ra bờ tre, xắn tay áo vung dao như múa. Cành tre, lá tre bay tơi tả như gặp gió to.
Dù hiền lành, bố Thuần cũng không thể nào chấp nhận được sự sấc xược vô lối của thằng em trai. Ông nhào ra bờ tre, đứng chặn trước mặt chú Định, quát lên :
- Dừng tay!
Không đếm xỉa đến lời ông anh, con dao trong tay chú Định vẫn vung lên, hạ xuống liên tục, ánh nắng lấp loá phản chiếu từ con dao như nhảy múa, như trêu ngươi bố Thuần.
Biết tiếng quát của mình không đủ uy lực chặn tay thằng em ngang ngược, bố Thuần lựa thế nhảy vào, dùng cả hai tay nắm chặt cổ tay cầm dao của chú. Hai bên giằng co xô đẩy nhau, cuối cùng con dao rơi đánh "keng" xuống đường làng bê tông, vừa lúc thằng Tâm đạp xe về.
Nhìn bờ tre bị chặt nham nhở, nhìn cái ngõ ngổn ngang những tay tre, nó hiểu chuyện gì đã xảy ra. Hất xe đạp vào bờ tre, nó nhảy tới, trong lúc chú Định đã gỡ tay cầm dao của mình khỏi tay ông anh. Một tay túm chặt cổ áo bố Thuần, tay kia co lại, dùng miếng võ điêu luyện chú học được trong tù, thoi một quả đấm chí mạng vào mặt ông anh. Máu mũi, máu mồm bố Thuần ộc ra.
Thằng Tâm chụp con dao dưới đất, nhảy đến chỗ hai người, vung lên, quát:
- Buông bố tôi ra !
Đang say máu, chú Định co tay, định bồi tiếp cho ông anh một đấm nữa. Không may, bắp tay phải của chú lúc thu về bén đúng lưỡi dao mà thằng Tâm vừa dứ. Một mảng áo rách toạc, một mảng thịt bắp tay bị lật, máu đỏ túa ra.
*
Thuần về đến nhà lúc trời sập tối. Cô cẩn thận dắt xe đạp vào góc nhà rồi ngồi xuống mé gường kê bên cửa sổ, vốn là chỗ ngồi thân quen từ ngày còn thơ ấu. Cô thường ghé môi qua song cửa trêu chòng chú Định, mỗi khi chú ra ao rửa rau.
Thấy Thuần về, khuôn mặt dúm dó của bố Thuần như nở ra, lấp lánh nét vui mừng vì đã có cứu tinh. Nhìn đôi vai gày trong lần áo mỏng của con gái cứ dướn lên sau mỗi lần thở gấp, ông không vội nói ngay, mà chỉ ngồi bên bàn lẳng lặng nhìn Thuần. Chiếc điếu cày dựng nghiêng trong cái thùng sơn cũ xoay đi xoay lại bởi mấy đầu ngón tay ông. Cuối cùng ông vo viên một điếu, ấn vào lõ rồi bật lửa. Khói thuốc còn vẩn trước mặt, ông húng hắng ho vài tiếng, ề à:
- Con Lan xóm trên, bạn học với mày, đẻ đứa thứ hai rồi đấy! Lại con trai !
Câu nói của bố có hàm ý nhắc nhở đến duyên phận của Thuần không đạt hiệu quả mong muốn và làm rối thêm những suy nghĩ trong lòng cô. Thuần bực mình cấm cảu:
- Bố nói chuyện ấy ra lúc này làm gì!
Bố Thuần ớ ra, mặt tóp lại. Cái yết hầu như củ ấu trên cần cổ nhăn nhúm chạy lên tụt xuống rối loạn trước phản ứng của con gái. Biết mình lỡ lời, cô đưa mắt lấm lét nhìn bố đang dùng bàn tay đen đúa, lúng túng đưa lên xoa cằm, cô bỗng chạnh lòng. Đã không biết bao nhiêu lần, Thuần dùng bàn tay nhỏ nhắn của mình giữ chặt bàn tay của những ông khách, không cho họ tiến sâu hơn nữa trong lúc họ đang cuồng dại. Những bàn tay cầm bút nên mịn màng và mềm dẻo biết bao, khác hẳn bàn tay chai sần của bố cô. Cũng là đàn ông, nhưng so với họ, bố cô cả đời chỉ biết lội ruộng, ngoài mẹ Thuần, không biết đến người đàn bà nào khác. Thuần muốn chạy đến ôm lấy bố mà gào lên một tiếng thật to : " Bố ơi !".
Thuần sẽ sàng hỏi bố như chuộc lỗi:
•- Chú Định đòi con sang hả bố!
•- Ừ! Chú ấy không thèm nhìn mặt bố mày, không thèm nhìn mặt ai trong nhà này. Đào đâu ra hai mươi triệu bây giờ hả con!- Bố Thuần rên rỉ.
Thuần băn khoăn:
•- Sao lại phải là con? Việc này là việc của cha chú cơ mà!
•- Bố cũng không hiểu!- Ông ngập ngừng- Hay chú biết mày làm công nhân giày da lắm tiền...!
Thuần cười khẩy, đưa mắt nhìn ra mảnh sân tối thui, rồi lặng lẽ quay vào, ngước mắt nhìn lên bàn thờ gia tiên. Một lá trầu héo quắt rũ xuống, quặp vào miệng đĩa đựng hoa quả. Thuần len lén đi đến, cô dùng khăn lau mặt ban thờ, rồi kính cẩn thắp ba nén hương. Khi các đầu hương đã cháy đỏ, cô quay lại hỏi bố, giọng thăm dò:
•- Thím Định và hai em Linh, Huyền không có ý kiến gì sao?
Bố Thuần chép miệng:
•- Thì mày cũng biết rồi đấy! Chú ấy đã làm gì, vợ con đố dám ho he. Ngay như việc bỏ ruộng lên thị trấn thuê nhà dạo trước...
Lặng đi một lúc như dành thời gian cho Thuần định liệu, bố Thuần ngần ngừ:
•- Tối nay thím và hai em lại về ngoại có giỗ...
Thuần ngẩng đầu nhìn bố một lần nữa rồi dứt khoát:
•- Thôi được, con sang!
Thuần quầy qủa đi thẳng ra ngõ. Đến cổng nhà chú Định, cô ngập ngừng dừng lại, ngửa mặt nhìn lên nền trời quê tối đen như bùn, lẳng lặng hít một hơi thật sâu, rồi kiên quyết đẩy cổng bước vào.
Chú Định đứng sững giữa nhà, không để Thuần kịp chào hỏi, chú gầm lên:
•- Mày được lắm! Đã thế thì tao nói thẳng. Giữa tao với gia đình nhà mày từ bây giờ không còn anh em, chú cháu, máu mủ ruột rà gì hết! Nó chém tao gần lìa cánh tay ra thế này- chú Định giơ cánh tay băng bó vào mặt Thuần, rồi ông ta cúi xuống gầm bàn, cầm lên một vật dài bọc ngoài bằng một tấm giẻ rách bẩn thỉu. Ông ta bỏ tấm giẻ, cầm con dao rựa dí thẳng vào mặt Thuần:
- Tang chứng đây! Muốn cứu nó khỏi tù thì "nôn" hai chục triệu ra!
Bị đòn phủ đầu, mặt Thuần tái dại, đôi môi hồng đổi sắc nhợt nhạt, mấp máy định phân trần vài câu thì người chú giơ cánh tay còn lành xua lia lịa:
- Khỏi trình bày! Tao thừa biết mày có tiền, nhiều tiền là khác! Cả nhà mày, cả làng này chỉ biết mày làm công nhân giày da, nhưng tao biết mày ra tỉnh làm điếm. Mỗi ngày tiếp hàng chục khách, kiếm mấy trăm nghìn...Có thế mày mới có tiền sửa nhà, lắp điện thoại cho bố mày chứ!
Thế là đã rõ. Cái điều mà Thuần nơm nớp lo sợ bấy lâu đã được nói ra từ miệng chú cô. Hẳn rằng những lần đến chơi gái ở quán Mỹ Duyên, dù cô đã trốn và đã thay tên đổi họ ngay từ lúc vào nghề, vẫn không sao thoát khỏi sự tinh ma và bề dày kinh nghiệm ăn chơi của chú mình. Nó như một đòn chí mạng, đập tan hy vọng của Thuần hòng bám víu vào tình chú cháu, máu mủ mà giải cứu cho thằng Tâm khỏi tù và cô khỏi mất tiền. Chú đã biết Thuần làm gái, vậy mà chú còn nhẫn tâm và đểu cáng cướp lại những đồng tiền nhơ nhớp ấy của cô. Thuần lảo đảo quỵ xuống. Phản xạ tự nhiên như những ngày đầu đi khách còn xấu hổ, cô giơ cả hai bàn tay lên che mặt, gào lên, khản đặc:
•- Chú ơi!...
Chú Định cong người, giơ cánh tay lành giật phăng hai tay đang ôm mặt của Thuần, chỉ vào mặt cô xỉa xói:
- Mày vừa sướng, vừa được tiền, thì mày phải biết tiêu tiền đúng miếng- Chú Định dằn giọng, tiếng nói rít qua kẽ răng- Mày chi ra, không thiệt đâu! Ngoài việc cứu em mày khỏi tù, tao thề sẽ giữa kín, không hé răng để một người nào làng này biết mày ra tỉnh làm phò! Sướng chưa, nhất chi lưỡng việc. còn gì!
Thuần bị điểm huyệt. Cô ệp xuống, dúm dó như một con gà nhép dưới bóng tối của đôi cánh con diều hâu từ trên cao chớp xuống. Cái điều cấm kị, tuyệt đối cấm kỵ, hòng giữ thể diện cho bố mẹ và dòng họ mà cô ém nhẹm trong dối trá mấy năm nay, không khéo bị ông chú ruột lật tẩy, phô bày ra giữa làng nước. Trong cái mười phương của đời làm đĩ, cái phương duy nhất còn để lấy chồng, có nguy cơ bị người chú vô lương tâm đóng lại. Thuần đang trở thành vật hy sinh cho một chuỗi sai trái mà những người ruột thịt với cô gây ra, và đích thân chú ruột tống tiền Thuần, những đồng tiền mà ông chú quý hoá của cô cho là từ sướng mà ra.
Ôi, chú của cháu ơi! Đâu rồi cái ngày cháu học vỡ lòng, chú hớn hở khoác lên người cháu cái áo phin hoa cổ cánh sen, mua bằng tiền bán lứa rau đầu tiên trong vườn nhà, rồi bồng cháu lên vai, đi nhông nhông trước con mắt ước ao, thèm muốn của những đứa trẻ cùng lớp...
Cô ngẩng đầu nhìn thẳng vào mặt người chú như tìm lại gương mặt ngày xưa. Dưới ánh đèn vàng quạch, khuôn mặt chú Định xù xì, nham nhở với mớ tóc dựng đứng, tựa gốc cây bị bật bên đường.
Lo sợ đến đắng họng làm cô như tắc thở. Thuần trợn trừng nhìn chú Định đang lồng lộn như một con sói mà nước mắt cứ tràn ra trên má. Trời ơi, lẽ nào như thế! Đành rằng là người, Thuần phải kiếm tiền, nhưng chỉ bằng cách của mình thôi, không làm hại ai khác. Còn đây: người chú đáng phải kính trọng của cô lại kiếm tiền bằng cách đánh trúng điểm yếu của người thân, của con cháu. Vì tiền mà chà đạp cả tình cả nghĩa, thậm chí đến vô nhân như thế này!
Không ! Không thể nào như thế! Chút hy vọng yếu ớt ngọ nguậy trong lòng Thuần, làm sáng rõ một dự định trắc nghiệm về sự còn mất của tình ruột thịt trong con người chú Định, mà cô manh nha từ lúc ngồi một mình trong cái phòng của quán Mỹ Duyên. Thuần cũng linh cảm được kế hoạch mà cô vạch ra để đối phó với chú Định là cực kỳ nguy hiểm, bởi con người bạo dục và thành tích bất hảo của chú. Nhưng mặc, cư phải hành động đã! Nếu chú Định thực sự súc vật, cô sẽ tự giải cứu mình, không bao giờ để việc ấy xảy ra. Hất thẳng mớ tóc rũ rượi bết nước mắt ra sau gáy, Thuần vụt đứng dậy, sấn đến trước mặt ông chú. Là phụ nữ, nếu buộc phải đánh trả sự vô nhân, thì nên dùng biện pháp vô loài!
Cách người chú cỡ bước chân, Thuần dừng lại, đầu cúi xuống, hai bàn tay chắp trước ngực, cô thẽ thọt:
•- Chú ơi! Cha cháu nghèo hèn, chúng cháu bé dại tội nghiệp, cầu xin chú nghĩ lại...
Không để cô nói hết, chú Định trừng mắt:
- Im đi, khỏi nhiều lời! Tao nói rồi! " Nôn" hai mươi triệu ra đây!
Thuần rên rỉ:
- Nhưng chú biết rõ mà, những đồng tiền của cháu...
- Mặc mẹ mày, tao không cần biết! Tiền nào cũng là tiền. Có chịu "nôn" ra hay không thì bảo!
Biết có cầu xin thêm nữa cũng vô ích, nỗi cay đắng đầy đến mức không còn chỗ chứa, Thuần đảo mắt quét một cái nhìn lên thân thể chú Định, cái nhìn nghề nghiệp, dùng mắt sờ nắn và đoán định chính xác độ cứng mềm của người khách lạ lần đầu tiên vào phòng với cô, trước khi họ trút bỏ quần áo. Việc ấy với Thuần quen rồi, cô chưa hề ngán bất cứ một loại đàn ông nào, từ những ông trọng lượng cơ thể nặng ngót một tạ, toàn thân thơm phức mùi rượu Tây hảo hạng, đến những thằng nghiện còm nhom, hôi hám, cả lưng, bụng, chân, tay xăm trổ vằn vện đầy những hình rắn, rết, chồn, cáo, hổ, báo, đại bàng. Thuần đổi giọng, nói rành rọt:
- Được, ông nói thế, rõ rồi! Nhưng tôi vẫn chưa tin là ông đã tuyệt tình!
Không để chú Định kịp phản ứng, Thuần bồi tiếp, như cảnh báo với chú, đối thủ của ông ta là ai:
- Tôi làm điếm là đã tuyên thệ với mình, chấp nhận đàn ông toàn thế giới. Già, trẻ, lớn, bé, da đen, da trắng, da đỏ, da vàng. Sẵn sàng xuyên lục địa bán thân! Còn ông, đẹp tốt nỗi gì! Từ ngày đất nước mở cửa, ông sa đoạ trác táng, không từ một loại đàn bà nào, thậm chí con điên ở chợ ông cũng không tha, trở thành một loại đĩ đực, chơi gái thành thần!
Phóng những tia mắt rực lửa như muốn thiêu cháy ông chú đang loạng quạng, chao đảo, quờ tay ra sau tìm cây cột để dựa lưng, Thuần đưa tay luồn vào áo ngực, rút ra quyển sổ tiết kiệm, quẳng lên bàn, chỗ sáng nhất:
- Đây là hai mươi triệu! Cộng với lãi suất sáu tháng của ngân hàng!
Chú Định chộp vội quyển sổ, đưa lên sát mắt kiểm tra.
- Để có nó- Thuần gào lên- Ông có biết tôi phải vần trên bụng bao nhiêu thằng không? - Thuần vung tay xoè cả năm ngón trước mặt người chú- Năm trăm thằng! Ông biết đếm chứ , năm trăm thằng! Gấp đôi đàn ông cái làng này!
Không để người chú cảm nhận hết tầm con số, Thuần hạ giọng, dõng dạc:
- Tôi sẽ viết giấy uỷ quyền! Nó là của ông với điều kiện: ông chứng minh được chúng ta là người dưng!
Bằng một động tác thuần thục, trong tích tắc, toàn bộ quần áo trên người Thuần tuột xuống đất, loã lồ thân thể trẻ trung với bộ ngực đầy đặn của cô. Chỉ một bước, Thuần lên giường, nằm ngửa, khép hờ đôi mắt u buồn bên sống mũi thẳng và cao như mũi Đức Mẹ, rồi duỗi thẳng cặp giò trắng như ngó cần ngay cạnh người chú đang đứng chết trân, hất hàm:
- "Của lạ" đấy! Chứng minh đi!
Chú Định ngây ra, không hiểu đứa cháu gái định giở trò gì. Sau hiểu ra mới biết mình đã lâm vào một tình huống khốn nạn. Mọi kế hoạch vạch ra để tống tiền bị Thuần bẻ sang hướng khác, đặt ông ta vào một tình thế trớ trêu. Toàn thân ớn lạnh, chú Định luống cuống lùi lại, suýt ngã ngửa, may có cái bàn chặn lại phía sau. Nhiều lần đứng trước những người đàn bà khoả thân do mua được, hay "chim" được, khi họ đã nằm trên giường, ông ta bình tĩnh và lọc lõi thoả mãn nhục dục của mình, không chút do dự. Còn bây giờ, cái thân thể trắng trẻo đầy ma lực kia là cháu ông. Liệu có nên không khi mười tám tháng trong tù, ông ta luôn phải thủ dâm? Hai mu mắt sụp xuống, chú Định vuốt một cái nhìn trộm lên thân thể Thuần: Đây có phải là "bữa tiệc" mà ông trời đền bù cho hơn năm trăm ngày "thiếu đói" của ông ta hay không?
Như đọc được ý nghĩ trong đầu ông chú, Thuần nheo một bên mắt, khẽ nhéch môi kiểu nửa miệng, nét mặt hết sức khinh nhờn:
- Sao, không dám bước qua ngưỡng à! Bản lĩnh người hùng của một thời soi ếch đâu rồi!
Chú Định đảo mắt nhìn vội ra sân. Thuần giục:
- Làm đi, được hai thứ đấy! Nhất chơi lưỡng lợi. Đại lộc còn gì!
Câu nói đểu cáng mang đậm tính chuyên nghiệp kiểu đĩ điếm thị thành, sặc mùi thách đố, cá cược của đứa cháu gái như mũi dao sắc lạnh đâm suốt vào trái tim tự tôn bề trên vẫn còn trong tiềm thức của người chú. Mặt ông nóng bừng, hai má co giật, toàn thân ông run lên, đôi môi dày mím chặt, mắt long lên trắng dã, hai tròng mắt trồi ra như hai viên đạn sắp bay ra khỏi nòng súng. Cái con nhãi ranh trời đánh thánh vật không chết, nằm thưỡn trên giường kia, mới có mấy năm ra tỉnh, lăn lộn, vật vã giữa trường đời, đã kịp trang bị trong mình một loại vũ khí là một chất kịch độc."Mượn gió bẻ măng". Ông những tưởng âm mưu của mình đã thâm độc, nhưng so với nó, chất độc của ông ta chỉ như nọc của con ong so với chất độc c
Kỉ niệm Hà Nội
Ðêm ấy Hà Nội không ngủ
Lính pháo phòng không đã nhiều đêm thức trắng
Phố còn người già trẻ em chưa kịp sơ tán
Loa phóng thanh báo tin máy bay địch vào gần
Hà Nội căng như sợi dây đàn
Em cùng trung đội nữ tự vệ nhà máy in Tiến Bộ vào tiếp đạn
Xong trận đánh em cho tôi địa chỉ
Nhà em số bốn Khâm Thiên
Có đêm Hà Nội bình yên
Hoa sữa dịu hương đường Xuân Diệu
Quả sấu rơi theo định luật Niu -Tơn
Em và tôi và trăng Tây Hồ lung linh huyền ảo
Ðã quá mười giờ tôi phải chia tay em
Nước mắt em trên má tôi nóng hổi
Rồi Hà Nội mười hai ngày đêm
Hà Nội Ðiện Biên Phủ trên không
Những con rồng lửa từ mặt đất vút lên
Hà Nội ầm ầm sấm dậy
Trong ánh chớp tôi thấy em xuất hiện
Có em thêm sức mạnh
Pháo đài bay bỏ xác trên đất Ngọc Hà
Rồi tôi đi xa
Mỗi khi nhớ nhà tôi lại hát Bài ca Hà Nộị
D X H
Những nghịch lý của cuộc sống | |
Có những điều hiển nhiên đến nỗi bạn không bao giờ bận tâm về nó. Có những điều tưởng chừng như rất nhỏ nhặt và bạn đã không làm từ rất lâu vì nhiều lý do. Hãy bình tâm ngồi lại, bạn sẽ thấy những điều hiển nhiên ấy, những diều nhỏ nhặt ấy có rất nhiều điều để bạn suy ngẫm lại bản thân. Chúng ta có ít nhưng xài nhiều, chúng ta mua nhiều nhưng sử dụng ít. Chúng ta làm ra những thứ lớn hơn nhưng chưa chắc chất lượng hơn. Chúng ta chinh phục không gian vũ trụ nhưng lại bỏ trống không gian tâm hồn. Chúng ta xây nhà cao hơn nhưng lại hạ thấp tâm tính; xây đường rộng hơn nhưng lại thu hẹp tầm nhìn. Chúng ta được học cách phải tiến nhanh về phía trước mà chưa học cách chờ đợi. Đây là thời đại của thức ăn nhanh và tiêu hoá chậm; của những con người to hơn nhưng nhân cách nhỏ hơn; tài sản rất sâu nhưng tình thương lại cạn. Hãy nhớ, dành nhiều thời gian hơn cho những người yêu thương bởi vì không chắc rằng họ sẽ ở bên bạn mãi mãi. Hãy nhớ, ôm thật chặt người ngồi kế bên bởi vì đó chính là kho báu duy nhất của con tim và nó không tốn một xu. Bạn nên nhớ ý nghĩa của cuộc sống không được tính bằng độ dài thời gian, nó chỉ có nghĩa trong khoảnh khắc bạn từ bỏ nó. Theo TTO |
Thời gian - Tấm màn bí mật | |
Ten01 : siutam | |
Thời gian có ở khắp nơi và chẳng ở đâu cả. Nó là cội nguồn của những bí mật. Chúng ta không thể nhìn thấy hay chạm vào thời gian. Tuy nhiên, chính "kẻ giấu mặt" này lại chi phối cuộc sống của mỗi người chúng ta. Từ đồng hồ sinh học của con người đến sự biến dạng của không gian, nhà vật lý người Mỹ gốc Nhật, Michio Kaku đã khám phá ra điều "lên dây cót" cho cuộc sống, vũ trụ và mọi thứ. Nguồn: Tạp chí Thành đạt | |

Nhà giáo ưu tú Nguyễn Siêu Phàm- hội viên Hội Nhà Văn Hải Phòng vừa có đại tang:Người bạn đời của ông sau một thời gian lâm trọng bệnh , đã từ trần ngày 22 / 7 /2009 < tức ngày 01 /6 /năm Kỷ Sửu .
Dưới đây là một số bài thơ ông viết để tưởng niệm người vợ vừa quá cố .
Bài 1
Tiễn đưa
Thôi! Mình hãy bình tâm về trước
Nơi ấy dẫu không là cõi Phật
Không miền Cực lạc ,không chốn Thiên đường
Nơi ấy dẫu mịt mờ bụi cát
Biết đâu lại chốn bình yên
Cõi tạm một đời sáu mươi tư năm
Thôi ,thế cũng xong kiếp người lận đận
Bỏ lại sau lưng bà con làng xóm
Sớm khuya tắt lửa tối đèn
Bỏ lại bao điều kẻ chê người khen
Bạn bè thân, sơ, người yêu ,kẻ ghét
Bỏ lại cháu con dưỡng nuôi nhọc mệt
đứa ngoan, đứa hư, đứa dại ,đứa khôn
Mình ở - dân thường ,về- lại thường dân
Mơ chi cõi thiêng ,niết bàn ,cực lạc
Cầu mong chốn về không còn điều ác
Không còn vất vả,không nỗi buồn đau
Không có gió sương mưa nẵng dãi dầu
Trong cõi vô thường tử -sinh, -sinh tử
Giờ mình đi rồi tôi thành goá bụa
Chẳng dám học đòi người xưa mất vợ *
Nghê nga ngồi hát Cổ Bồn ca
Giò mình đi rồi tôi thành cô lẻ
Tôi khóc thương mình và tôi khóc tôi.
Viết những ngàyT . trở bệnh 6/ 2009
Đọc khi T hấp hối trên giường bệnh
22/ 7/ 2009
*Khi vợ mất ông Trang Tử không khóc mà ngồi hát khúc" Cổ Bồn Ca" có ý day rằng : Phải sống theo cái lẽ của trời đất bao la ,có xuân hạ thì có thu đông, có sinh thì có diệt, can chi mà phải khóc
ài 2
Cúng Cơm
Cầm bát tôi đơm cơm
Tay run run do dự
Đơm vơi hay là đơm ủ?
Tôi đâu nghĩ chuyện xới cơm cúng mình!
Xắt mỗi lát gừng
lưỡi dao rưng rưng
bẩy hay chín hay là ba lát nhỉ ?
Cúng cơm cho mình nào tôi đâu nghĩ!
Muối đơm một chén hay đơm một thìa ?
Bữa ăn cho mình giờ đơn giản thế!
Hay tôi xắp mâm mình cÙng ngồi thể
Tôi ngồi bên này ,mình ngồi bên kia
Mình chan cho tôi thìa canh mình nấu
Mình gắp cho tôi khúc cá mình kho,
Sao mình không nói, sao mình không thưa !
Cách làn khói hương mà xa vời vợi
Tôi đứng gọi mình lòng như xát muối
Tôi đứng gọi mình nước mắt đầy tim.
Ngày cúng bưa cơm đầu cho T
04?6 -25-7-2009
Bài 3
Hoa cau
" Cảm tạ Nhà Văn Thạch Lựu"
Hoa huệ thì thơm mùi thơm lễ nghi
Hoa hồng cắm đĩa biết thơm nỗi gì ?
Bên bàn thờ mình bình hoa cau trắng
Hương nhẹ nhàng thơm từ nụ hoa lấm tấm
Cái mùi thơm quen thuộc vườn nhà
Cái mùi thơm tháng tám tháng ba
Quện vào hương trầu hương lúa
Mình vẫn ước trồng hàng cau trước cửa
Gơ giàn trầu trong mảnh vườn con
Giờ trầu đã giàn lá vàng lá non
Cau chưa kịp hoa !
Hoa cau bạn viếng *
Vấn vít dây trầu màu xanh tưởng niệm
Để tôi thấy mình chẳng bao giờ xa
31 / 7 / 2009
* Nhà Văn Thạch Lựu đã đem một buồng hoa cau ,một dây trầu thắp hương trên bàn thờ vợ tôi < N S P >
Chiều qua thứ 7 ngày 25 tháng 7 nam 2009, truyền hình Hải Phòng thu một chương trình giao lưu thơ về đề tài 27-7, phát sóng vào 16h25 chiều chủ nhật 26-7-2009. Kênh THP đã có mặt trên truyền hình cáp Hà Nội và TP.HCN nên trong đó cũng có thể xem được.
Bài thơ sau đây mở màn cho chương trình
Cây bồ đề ở Nghĩa trang Trường Sơn
Có phải không trời đất định nơi này
Cho hạt bồ đề trở mình sinh nở
Cây bồ đề lớn lên giữa mười nghìn ngôi mộ
Cành lá xanh ôm đỡ tượng đài
Ngôi mộ nào cũng quay mặt về đây
Còn tượng đài thì quay về phương bắc
Ở nơi ấy là cội nguồn đât Việt
Trải bao đời người mở nước ra đi
Lặng cúi đầu trước hương khói bay
Đồng đội ơi ! Tôi muộn màng trở lại
Cây bồ đề nghìn năm xanh mãi
Tỏa bóng Thiền che chở cõi linh thiêng.
Đăng Xuân Giang
Giải thưởng Hội Nhà văn 2004:
Nhà thơ Lãng Thanh |
Lãng Thanh với tập thơ Hoa là một trong 6 tác giả nằm trong danh sách giải B của giải thưởng Hội Nhà văn năm 2004 (không có giải A). Anh là người trẻ tuổi nhất trong các tác giả đoạt giải (sinh năm 1977) nhưng cũng thật trớ trêu, anh đã ra đi từ năm 2002.
Tập thơ Hoa chỉ vỏn vẹn 14 bài thơ dày 76 trang, chia làm hai phần Thượng, Hạ. Thật mỏng manh nhưng cũng thật day dứt với Lãng Thanh.
Ngày còn sống, thi thoảng Lãng Thanh tới xóm Hồng gặp anh em trong nhóm văn Chí Tâm. Trong nhóm, ai cũng gọi Lãng Thanh là thi sĩ. Nét thi sĩ không chỉ trong câu thơ uyển chuyển, ý tứ mới lạ mà còn thoát ra ngoài dáng vẻ, gầy ốm, da xanh, mắt đeo kính cận dày.
Trái nghịch với vóc dáng và sở thích sáng tác, Lãng Thanh lại theo học hai trường "rất mốt" cùng lúc của thanh niên thời bây giờ: Học Viện Quan hệ Quốc tế khóa 23 và Đại học Ngoại thương khóa 36.
Giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung và Hán cổ, Lãng Thanh đã đọc nguyên bản và dịch một số bài thơ nước ngoài. Sau khi ra trường năm 2001, Lãng Thanh về công tác tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Vĩnh Phúc. Bữa ấy ngày 23/6/2002, Lãng Thanh đến nhóm Chí Tâm. Anh rụt rè: "Mình muốn nhờ anh em xin hộ giấy phép tập thơ".
Anh em trong nhóm chuyền nhau bản thảo tập thơ Hoa và bình luận. Mỗi người một nhận xét, có chăng sự đánh giá giống nhau là ý tứ thơ mới lạ, suy nghĩ mạnh bạo. Lãng Thanh bấy giờ trong cơn sôi nổi mới thốt lên: "Thơ hay đâu cứ lượng nhiều. Cả đời chỉ cần in một tập thơ là đủ!".
Tinh hoa phát tiết. Ngàn năm bạc mệnh một đời tài hoa. Câu nói điềm báo chẳng ai ngờ là thật. Chưa tròn một tháng sau, Lãng Thanh "lẳng lặng"... đi thật xa.
Rồi anh em nhóm văn Chí Tâm về quê hương Việt Trì đưa tiễn hai bố con Lãng Thanh bị kẻ ác sát hại. Trước mộ Lãng Thanh, anh em hứa sẽ cố gắng thực hiện ước mơ của anh. Như đáp tấm thân tình, những vòng hoa quanh mộ bùng cháy hết lên...
Nhà thơ Phạm Đức đã đứng ra chịu trách nhiệm bản thảo để tập thơ Hoa được Nhà xuất bản Thanh niên cấp giấy phép. Vì tập thơ nằm ngoài kế hoạch nên Thiên Sơn, trưởng nhóm đứng ra vận động anh em Chí Tâm, những bè bạn thân cùng học của Lãng Thanh quyên góp người mấy chục, người một vài trăm để lấy quỹ in thơ. Biết là chưa có kinh nghiệm vẽ bìa nhưng Quốc Việt, một kiến trúc sư trẻ cũng tự xin nhận trách nhiệm. Còn Khương Việt Hà, một nghiên cứu viên văn học Nhật thuộc Ban Quốc tế của Viện Văn học cũng gắng lo phần việc trình bày...
Sách in vừa ráo mực, tiếng thơm đã vang đồn. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo là người đầu tiên "chộn rộn" không nén nổi đã bật thốt lên trên báo Tiền Phong Chủ nhật số 29, ngày 20/7/2003: Một tài năng mệnh yểu. Thật kỳ lạ. Bài báo của nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại in đúng vào ngày giỗ đầu của Lãng Thanh.
Tiếp theo bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, nhóm Chí Tâm bàn nhau nên phát hành thơ của Lãng Thanh thông qua bài viết giới thiệu trên báo Tiền Phong Chủ nhật. Tôi được anh em tín nhiệm chấp bút viết bài về cái chết oan ức của Lãng Thanh và tài năng thi, thư, họa, dịch của anh.
Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn, thư ký tòa soạn báo Tiền Phong Chủ nhật sau khi đón nhận tập thơ Hoa từ sự kính cẩn của tôi đã đọc ngay tập thơ. Đọc xong, anh im lặng một lát rồi nói: "Đâu, chú đưa bài đây anh xem nào!".
Ba ngày sau, bài báo của tôi in ra nguyên vẹn. Trưa thứ 7, khi tôi đang trên đường ra sạp mua báo thì có tiếng chuông điện thoại reo. Một bạn đọc Tiền Phong Chủ nhật đã gọi cho tôi với lời đề nghị mong có được tập thơ ngay lúc vừa đọc xong bài viết và số điện thoại đăng trên báo. Tiếp đó, Nguyễn Quyến và nhà thơ Hồng Thanh Quang báo An ninh Thế giới gọi đề nghị cung cấp tập thơ và thông tin để thẩm định, viết bài. Vài ba tuần sau, trên một số báo như Ngày nay, Đất Tổ, trang Văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam... có bài về thơ Lãng Thanh. Và thấm thoắt chưa đầy hai tuần, 800 bản in đã được phân phát khắp mọi miền đất nước từ Bắc chí Nam. Viết đến đây, cho phép tôi được xin lỗi nhiều bạn đọc mong mỏi có tập thơ mà chúng tôi chưa thể có sách gửi biếu được... cũng như một phần đóng góp ủng hộ thêm của bạn đọc mà chúng tôi chưa tái bản và bổ sung thêm phần di cảo sáng tác của Lãng Thanh.
Đọc tập thơ Hoa của Lãng Thanh, nhà thơ Lê Quốc Hán, giảng viên khoa Toán Đại học Vinh, Nghệ An ngoài việc viết thư trao đổi với chúng tôi còn cảm hứng viết thơ về thi sĩ lãng Thanh. Cũng thật tình cờ, năm 2004, một bài thơ tưởng nhớ của anh đã đăng đúng ngày giỗ năm thứ hai của Lãng Thanh trên báo Tiền Phong.
Thơ Hoa gây dư luận. Nhiều nhà văn, nhà thơ và bạn yêu thơ đã tìm đọc. Hồi đầu năm nay, Thiên Sơn nói với tôi: "Năm 2003, lẽ ra Hoa của Lãng Thanh đã được giải nhưng vì Hội Nhà văn tưởng rằng Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam đã trao giải cho tập thơ Hoa nên thôi. Và Hội Liên hiệp cũng có ý nghĩ ngược lại. Thành ra...".
Hoa đã chính thức được xếp giải. Lãng Thanh (tiếng sóng) đã trôi xa nhưng Hoa còn đọng lại. Trong tâm trí người viết lúc này đang hiện lên nét bút thư pháp tài hoa Lãng Thanh khi thể hiện chữ Nhất. Lãng Thanh nói: "chữ Nhất chỉ là một nét ngang, ai cũng có thể viết được nhưng cao thủ hay không là biết ngay". Chữ Nhất của Lãng Thanh như dải lụa phất, lại như đường bay của lưỡi kiếm, giữa hai đầu đậm mực là khoảng giữa mờ tia mực. Lãng Thanh bảo: "đấy là kiểu bút phi bạch. Nét đẹp nằm trong cái không!".
Lãng Thanh ơi. Phải chăng bạn là chữ Nhất qua kiểu viết phi bạch.
Hà Nội 21/1/2005.
XUÂN QUỲNH thời gác gôn Thơ ở báo Văn Nghệ
Lớn | Vừa | Nhỏ
[Vào lúc : 19:06 - 17/06/2009 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Nhà thơ Võ Văn Trực kể: "Răng anh còn tốt không?" - Tôi đang ngồi đọc tập bản thảo lai cảo, Quỳnh hỏi. Tôi cứ tưởng chị muốn chiêu đãi tôi một món ăn lạ mà cứng. "Anh có gặm được xương bò không?". "Quỳnh gặm được thì mình cũng gặm được". "Tôi không tài nào xực được món này. Anh gặm được thì tôi dành cho anh gặm tất" - Quỳnh vừa nói vừa đặt trước mặt tôi mấy bài thơ lai cảo....Tôi cầm đọc. Thì ra mấy bài thơ vô cùng khó hiểu của một nhà thơ trẻ. Dạo ấy, trong một số nhà thơ trẻ đang rộ lên xu hướng làm thơ khó hiểu, càng khó hiểu càng hay, càng tắc tị càng cao siêu.
Nữ sĩ Xuân Quỳnh và một "Gác Gôn thơ" ở Báo Văn nghệ
VÕ VĂN TRỰC
Thời ấy, tổ thơ báo Văn nghệ gồm ba nhà thơ nổi tiếng: Vĩnh Mai, Phạm Hổ, Xuân Quỳnh. Phạm Hổ bị bệnh hen. Xuân Quỳnh trẻ tuổi nhất. Vĩnh Mai vịnh bốn câu:
Tổ thơ một bố một con
Bố thì lẩm cẩm, con còn ngô nghê
Lại thêm Phạm Hổ mới về
Hổ là hổ giấy "khò khè" quanh năm
Có lẽ Xuân Quỳnh là nhà thơ ít tuổi nhất trong tổ, cho nên Vĩnh Mai dùng hai chữ "ngô nghê". Thật ra, Xuân Quỳnh không ngô nghê. Lúc này chị là một trong những nhà thơ nổi nhất của thế hệ thơ chống Mỹ. Trinh Đường cùng làm việc với chị một thời gian. Theo anh, Xuân Quỳnh thẩm thơ rất tinh, đọc thơ không những chị nhận ra cái hay cái dở, mà còn nhận ra cái đúng cái sai (ý Trinh Đường muốn nói cái đúng cái sai về chính trị). Năm 1977, tôi về báo Văn nghệ cùng tổ thơ với Xuân Quỳnh. Hai năm sau, có thêm Phạm Tiến Duật.
Ngày nào báo Văn nghệ cũng nhận được hàng chục bản thảo lai cảo, nhiều nhất là thơ. Cả nước, trong Nam, ngoài Bắc dồn thơ về đây. Thơ nhiều vô kể. Xuân Quỳnh đọc sơ bộ để loại những bài yếu. Tôi đọc lại tập bài chị đã loại bỏ để xem có "cứu" được bài nào không. Đúng như chị đã thẩm định: không "cứu" được bài nào cả. Những bài tôi chọn cuối cùng để nộp cho Tổng biên tập đưa in vào các số tới đều có chữ ký của hai người. Thông thường, những bài tôi đã ký thì Xuân Quỳnh cũng ký. Chúng tôi dễ thống nhất với nhau trong việc chọn thơ in.
Một lần, Tổng biên tập Nguyễn Văn Bổng đưa cho tổ thơ mấy bài di cảo của một nhà thơ quá cố nổi tiếng từ thời Tự lực văn đoàn và trong kháng chiến chống Pháp. Nội dung mấy bài thơ đó là khóc vợ. Tôi không thích, nhưng vẫn ký để xếp vào số tới vì hai lẽ: 1) Thơ của một thi sĩ nổi tiếng trong làng thơ Việt Nam. 2) Bài trong tập di cảo do gia đình nhà thơ giữ và trực tiếp gửi cho Tổng biên tập. Xuân Quỳnh không ký và nói với tôi: "Mấy bài thơ này yếu quá. Khóc vợ như thế này thì chỉ cười chứ không khóc được". Tôi vẫn nộp bài cho Thư ký tòa soạn. Tổng biên tập Nguyễn Văn Bổng gặp lại tổ thơ: "Sao không có chữ ký của Xuân Quỳnh?". Xuân Quỳnh trình bày ý kiến của mình một cách thẳng thắn. Anh Bổng cầm về nhà và đọc lại kỹ càng. Cuối cùng anh gặp chúng tôi: "Tôi chịu thua cô Xuân Quỳnh".
Làm biên tập ở báo Văn nghệ, một trong những công việc choán khá nhiều thời gian là tiếp cộng tác viên, nhất là cộng tác viên thơ. Mỗi cộng tác viên lại có một kiểu "hách" khác nhau. Nhà thơ lão thành thì nói như quát: "Thơ tôi thế này mà không in được à!". Người ở chiến trường ra: "Tôi phải vào sinh ra tử mới làm được mấy bài thơ này". Có người thành thật, khẩn khoản: "Tôi vừa mới về hưu, không biết làm gì. Tôi làm thơ. Nhờ tòa soạn in để động viên tuổi già tôi". Có người ngồi hàng tiếng đồng hồ. Thậm chí có người ngồi cả buổi. Phải kiên nhẫn tiếp khách. Về cái khoản này thì Xuân Quỳnh không kiên nhẫn được. Chị thường "đẩy" cho tôi, nhất là khi gặp cộng tác viên khó tính.
Nhà thơ N. làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh, đã từng được đề cao trong thời kỳ Văn nghệ Giải phóng miền Nam, liên tục gửi bài cho báo Văn nghệ. Nhưng bài được in rất ít. Đã có lần anh to tiếng với Xuân Quỳnh. Lần ấy, vừa thấy bóng nhà thơ N. ở cổng tòa soạn, Xuân Quỳnh đã lẩn trốn. Một mình tôi tiếp. Thỉnh thoảng Xuân Quỳnh lại thoáng qua cửa để xem thái độ anh N. thế nào. Chẳng thấy anh to tiếng, mà lại cười nói vui vẻ... Sau khi tôi tiễn anh N. ra về, Xuân Quỳnh chạy đến gặp tôi: "Ông đã cứu tôi một bàn thua trông thấy. Cách đây mấy hôm, tôi nhận được bài của anh N., ngoài phong bì ghi đích danh tên tôi. Không dùng được bài nào cả...".
Một lần khác, tôi tiếp Phan Hồng Khánh từ Nghệ An ra. Phan Hồng Khánh là con Tây lai, tóc xoăn, mắt xanh, râu quai nón, y hệt một ông Tây. Tưởng tôi tiếp khách nước ngoài, Xuân Quỳnh ôm bản thảo sang phòng bên cạnh. Khánh là cây bút trẻ, làm thơ lục bát khá nhuần nhuyễn. "Có bài nào mới, đọc nghe cho vui". Khánh tủm tỉm cười, rồi cất giọng: "Những lời người nói với tôi/ Xa xôi ngày ấy nào tôi biết gì/ Núi chưa vọng tiếng từ quy/ Sông chưa chảy xiết, bờ thì chưa cao/ Mùng tơi chưa bén dậu rào/ Dâu chưa nên cội, tằm nào đã ươm....". Xuân Quỳnh chạy sang, hòa vào cuộc một cách thích thú. Về sau, Quỳnh mới nói cho tôi rõ lý do: "Làm thơ lục bát khó lắm. Tôi thấy ai làm thơ lục bát hay là tôi phục. Bây giờ lại nghe một ông Tây đọc thơ lục bát nhuần nhuyễn, tôi mới chạy sang xem ông Tây này là thế nào...".
*
"Răng anh còn tốt không?" - Tôi đang ngồi đọc tập bản thảo lai cảo, Quỳnh hỏi. Tôi cứ tưởng chị muốn chiêu đãi tôi một món ăn lạ mà cứng. "Anh có gặm được xương bò không?". "Quỳnh gặm được thì mình cũng gặm được". "Tôi không tài nào xực được món này. Anh gặm được thì tôi dành cho anh gặm tất" - Quỳnh vừa nói vừa đặt trước mặt tôi mấy bài thơ lai cảo....Tôi cầm đọc. Thì ra mấy bài thơ vô cùng khó hiểu của một nhà thơ trẻ. Dạo ấy, trong một số nhà thơ trẻ đang rộ lên xu hướng làm thơ khó hiểu, càng khó hiểu càng hay, càng tắc tị càng cao siêu. Mấy lần họp anh em thơ ở Hội Nhà văn, anh Chế Lan Viên, Trưởng ban Thơ của Hội, cảnh báo về "loại thơ tân kỳ" này. Anh Xuân Diệu thì nói: Đó là "thơ cách tân", "thơ hiện đại", "thơ hậu hiện đại". Tòa soạn báo Văn nghệ nhận được khá nhiều thơ kiểu ấy. Có lần tôi bàn với Xuân Quỳnh: "Cứ nộp vài bài lên cho ông Bổng, xem ông Bổng có xực được không?". Anh Nguyễn Văn Bổng gặp lại tổ thơ, cau mày: "Mình dốt thơ. Các cậu giải thích cho mình hai bài thơ này nói gì. Mình nói thật đấy".
Trong tổ thơ, chúng tôi quy định với nhau: Khi đọc bài lai cảo, ghi ba loại ký hiệu bên lề. Đánh dấu cộng tức là bài khá, dùng được. Đánh dấu thước thợ tức là bài có thể dùng được, có thể không dùng. Đánh dấu trừ tức là bài kém, không dùng. Ngoài ba loại ký hiệu đó, Xuân Quỳnh còn xếp một loại bài thứ tư và ghi bên lề :"Gặm xương bò". Quỳnh diễn giải thêm: "Gặm xương bò nát cả răng mà không thấy chút tủy nào".
Sáng hôm ấy, nhà thơ T. cùng với hai nhà thơ trẻ khác thuộc "trường phái cách tân" vào tòa soạn. Bình thường, Xuân Quỳnh "đẩy" cho tôi tiếp, bỏ đi nơi khác. Nhưng không hiểu sao hôm ấy Quỳnh ngồi lại và trò chuyện vui vẻ. Ba nhà thơ hào hứng đọc một loạt bài "thơ tân kỳ". Quỳnh sang phòng bên cạnh độ dăm phút, rồi quay vào: "Hôm qua tôi thức gần trắng đêm làm được bài thơ, tôi đọc các ông xem có hiện đại bằng thơ các ông không?". Nhà thơ T. đánh đét vào đùi: "Tuyệt quá! Tuyệt quá! Đọc đi!".
Xuân Quỳnh đọc với giọng ra vẻ đầy diễn cảm: "Gửi từ phương xa/ Lúa đã chín rồi/ Sống và chết/ Tình yêu tôi là biển sóng gầm/ Đả đảo vua chúa/ Nghỉ yên dưới mộ/ Chiếc xe bốn con bò kéo/ Tiếng ta ca hát/ Buồn đau?là biển cả/ Hỡi số phận, mở trước mặt tôi/ Mây đang đè nặng/ Một ý nghĩ cứ giày vò tôi mãi/ Một ý nghĩ giày vò tôi/ Một ý nghĩ giày vò tôi....". Ba nhà thơ hết lời tán tụng: Xuân Quỳnh hiện đại quá! Xuân Quỳnh xứng đáng là thi sĩ dẫn đầu nhà thơ hiện đại! Xuân Quỳnh mỉm cười - nụ cười kín đáo, đặt lên bàn tờ giấy chép "bài thơ" của mình. Đồng thời chị mở tập "Thơ Petofi". Thì ra "bài thơ" của chị chính là mục lục ở trang cuối tập "Thơ Petofi". Ba thi sĩ trẻ ngồi đớ người... Một cách đối đáp rất thông minh của Xuân Quỳnh!
Nguồn: Văn Nghệ Công An
XUÂN QUỲNH thời gác gôn Thơ ở báo Văn Nghệ
Lớn | Vừa | Nhỏ
[Vào lúc : 19:06 - 17/06/2009 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Nữ sĩ Xuân Quỳnh và một "Gác Gôn thơ" ở Báo Văn nghệ
VÕ VĂN TRỰC
Thời ấy, tổ thơ báo Văn nghệ gồm ba nhà thơ nổi tiếng: Vĩnh Mai, Phạm Hổ, Xuân Quỳnh. Phạm Hổ bị bệnh hen. Xuân Quỳnh trẻ tuổi nhất. Vĩnh Mai vịnh bốn câu:
Tổ thơ một bố một con
Bố thì lẩm cẩm, con còn ngô nghê
Lại thêm Phạm Hổ mới về
Hổ là hổ giấy "khò khè" quanh năm
Có lẽ Xuân Quỳnh là nhà thơ ít tuổi nhất trong tổ, cho nên Vĩnh Mai dùng hai chữ "ngô nghê". Thật ra, Xuân Quỳnh không ngô nghê. Lúc này chị là một trong những nhà thơ nổi nhất của thế hệ thơ chống Mỹ. Trinh Đường cùng làm việc với chị một thời gian. Theo anh, Xuân Quỳnh thẩm thơ rất tinh, đọc thơ không những chị nhận ra cái hay cái dở, mà còn nhận ra cái đúng cái sai (ý Trinh Đường muốn nói cái đúng cái sai về chính trị). Năm 1977, tôi về báo Văn nghệ cùng tổ thơ với Xuân Quỳnh. Hai năm sau, có thêm Phạm Tiến Duật.
Ngày nào báo Văn nghệ cũng nhận được hàng chục bản thảo lai cảo, nhiều nhất là thơ. Cả nước, trong Nam, ngoài Bắc dồn thơ về đây. Thơ nhiều vô kể. Xuân Quỳnh đọc sơ bộ để loại những bài yếu. Tôi đọc lại tập bài chị đã loại bỏ để xem có "cứu" được bài nào không. Đúng như chị đã thẩm định: không "cứu" được bài nào cả. Những bài tôi chọn cuối cùng để nộp cho Tổng biên tập đưa in vào các số tới đều có chữ ký của hai người. Thông thường, những bài tôi đã ký thì Xuân Quỳnh cũng ký. Chúng tôi dễ thống nhất với nhau trong việc chọn thơ in.
Một lần, Tổng biên tập Nguyễn Văn Bổng đưa cho tổ thơ mấy bài di cảo của một nhà thơ quá cố nổi tiếng từ thời Tự lực văn đoàn và trong kháng chiến chống Pháp. Nội dung mấy bài thơ đó là khóc vợ. Tôi không thích, nhưng vẫn ký để xếp vào số tới vì hai lẽ: 1) Thơ của một thi sĩ nổi tiếng trong làng thơ Việt Nam. 2) Bài trong tập di cảo do gia đình nhà thơ giữ và trực tiếp gửi cho Tổng biên tập. Xuân Quỳnh không ký và nói với tôi: "Mấy bài thơ này yếu quá. Khóc vợ như thế này thì chỉ cười chứ không khóc được". Tôi vẫn nộp bài cho Thư ký tòa soạn. Tổng biên tập Nguyễn Văn Bổng gặp lại tổ thơ: "Sao không có chữ ký của Xuân Quỳnh?". Xuân Quỳnh trình bày ý kiến của mình một cách thẳng thắn. Anh Bổng cầm về nhà và đọc lại kỹ càng. Cuối cùng anh gặp chúng tôi: "Tôi chịu thua cô Xuân Quỳnh".
Làm biên tập ở báo Văn nghệ, một trong những công việc choán khá nhiều thời gian là tiếp cộng tác viên, nhất là cộng tác viên thơ. Mỗi cộng tác viên lại có một kiểu "hách" khác nhau. Nhà thơ lão thành thì nói như quát: "Thơ tôi thế này mà không in được à!". Người ở chiến trường ra: "Tôi phải vào sinh ra tử mới làm được mấy bài thơ này". Có người thành thật, khẩn khoản: "Tôi vừa mới về hưu, không biết làm gì. Tôi làm thơ. Nhờ tòa soạn in để động viên tuổi già tôi". Có người ngồi hàng tiếng đồng hồ. Thậm chí có người ngồi cả buổi. Phải kiên nhẫn tiếp khách. Về cái khoản này thì Xuân Quỳnh không kiên nhẫn được. Chị thường "đẩy" cho tôi, nhất là khi gặp cộng tác viên khó tính.
Nhà thơ N. làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh, đã từng được đề cao trong thời kỳ Văn nghệ Giải phóng miền Nam, liên tục gửi bài cho báo Văn nghệ. Nhưng bài được in rất ít. Đã có lần anh to tiếng với Xuân Quỳnh. Lần ấy, vừa thấy bóng nhà thơ N. ở cổng tòa soạn, Xuân Quỳnh đã lẩn trốn. Một mình tôi tiếp. Thỉnh thoảng Xuân Quỳnh lại thoáng qua cửa để xem thái độ anh N. thế nào. Chẳng thấy anh to tiếng, mà lại cười nói vui vẻ... Sau khi tôi tiễn anh N. ra về, Xuân Quỳnh chạy đến gặp tôi: "Ông đã cứu tôi một bàn thua trông thấy. Cách đây mấy hôm, tôi nhận được bài của anh N., ngoài phong bì ghi đích danh tên tôi. Không dùng được bài nào cả...".
Một lần khác, tôi tiếp Phan Hồng Khánh từ Nghệ An ra. Phan Hồng Khánh là con Tây lai, tóc xoăn, mắt xanh, râu quai nón, y hệt một ông Tây. Tưởng tôi tiếp khách nước ngoài, Xuân Quỳnh ôm bản thảo sang phòng bên cạnh. Khánh là cây bút trẻ, làm thơ lục bát khá nhuần nhuyễn. "Có bài nào mới, đọc nghe cho vui". Khánh tủm tỉm cười, rồi cất giọng: "Những lời người nói với tôi/ Xa xôi ngày ấy nào tôi biết gì/ Núi chưa vọng tiếng từ quy/ Sông chưa chảy xiết, bờ thì chưa cao/ Mùng tơi chưa bén dậu rào/ Dâu chưa nên cội, tằm nào đã ươm....". Xuân Quỳnh chạy sang, hòa vào cuộc một cách thích thú. Về sau, Quỳnh mới nói cho tôi rõ lý do: "Làm thơ lục bát khó lắm. Tôi thấy ai làm thơ lục bát hay là tôi phục. Bây giờ lại nghe một ông Tây đọc thơ lục bát nhuần nhuyễn, tôi mới chạy sang xem ông Tây này là thế nào...".
*
"Răng anh còn tốt không?" - Tôi đang ngồi đọc tập bản thảo lai cảo, Quỳnh hỏi. Tôi cứ tưởng chị muốn chiêu đãi tôi một món ăn lạ mà cứng. "Anh có gặm được xương bò không?". "Quỳnh gặm được thì mình cũng gặm được". "Tôi không tài nào xực được món này. Anh gặm được thì tôi dành cho anh gặm tất" - Quỳnh vừa nói vừa đặt trước mặt tôi mấy bài thơ lai cảo....Tôi cầm đọc. Thì ra mấy bài thơ vô cùng khó hiểu của một nhà thơ trẻ. Dạo ấy, trong một số nhà thơ trẻ đang rộ lên xu hướng làm thơ khó hiểu, càng khó hiểu càng hay, càng tắc tị càng cao siêu. Mấy lần họp anh em thơ ở Hội Nhà văn, anh Chế Lan Viên, Trưởng ban Thơ của Hội, cảnh báo về "loại thơ tân kỳ" này. Anh Xuân Diệu thì nói: Đó là "thơ cách tân", "thơ hiện đại", "thơ hậu hiện đại". Tòa soạn báo Văn nghệ nhận được khá nhiều thơ kiểu ấy. Có lần tôi bàn với Xuân Quỳnh: "Cứ nộp vài bài lên cho ông Bổng, xem ông Bổng có xực được không?". Anh Nguyễn Văn Bổng gặp lại tổ thơ, cau mày: "Mình dốt thơ. Các cậu giải thích cho mình hai bài thơ này nói gì. Mình nói thật đấy".
Trong tổ thơ, chúng tôi quy định với nhau: Khi đọc bài lai cảo, ghi ba loại ký hiệu bên lề. Đánh dấu cộng tức là bài khá, dùng được. Đánh dấu thước thợ tức là bài có thể dùng được, có thể không dùng. Đánh dấu trừ tức là bài kém, không dùng. Ngoài ba loại ký hiệu đó, Xuân Quỳnh còn xếp một loại bài thứ tư và ghi bên lề :"Gặm xương bò". Quỳnh diễn giải thêm: "Gặm xương bò nát cả răng mà không thấy chút tủy nào".
Sáng hôm ấy, nhà thơ T. cùng với hai nhà thơ trẻ khác thuộc "trường phái cách tân" vào tòa soạn. Bình thường, Xuân Quỳnh "đẩy" cho tôi tiếp, bỏ đi nơi khác. Nhưng không hiểu sao hôm ấy Quỳnh ngồi lại và trò chuyện vui vẻ. Ba nhà thơ hào hứng đọc một loạt bài "thơ tân kỳ". Quỳnh sang phòng bên cạnh độ dăm phút, rồi quay vào: "Hôm qua tôi thức gần trắng đêm làm được bài thơ, tôi đọc các ông xem có hiện đại bằng thơ các ông không?". Nhà thơ T. đánh đét vào đùi: "Tuyệt quá! Tuyệt quá! Đọc đi!".
Xuân Quỳnh đọc với giọng ra vẻ đầy diễn cảm: "Gửi từ phương xa/ Lúa đã chín rồi/ Sống và chết/ Tình yêu tôi là biển sóng gầm/ Đả đảo vua chúa/ Nghỉ yên dưới mộ/ Chiếc xe bốn con bò kéo/ Tiếng ta ca hát/ Buồn đau?là biển cả/ Hỡi số phận, mở trước mặt tôi/ Mây đang đè nặng/ Một ý nghĩ cứ giày vò tôi mãi/ Một ý nghĩ giày vò tôi/ Một ý nghĩ giày vò tôi....". Ba nhà thơ hết lời tán tụng: Xuân Quỳnh hiện đại quá! Xuân Quỳnh xứng đáng là thi sĩ dẫn đầu nhà thơ hiện đại! Xuân Quỳnh mỉm cười - nụ cười kín đáo, đặt lên bàn tờ giấy chép "bài thơ" của mình. Đồng thời chị mở tập "Thơ Petofi". Thì ra "bài thơ" của chị chính là mục lục ở trang cuối tập "Thơ Petofi". Ba thi sĩ trẻ ngồi đớ người... Một cách đối đáp rất thông minh của Xuân Quỳnh!
Nguồn: Văn Nghệ Công An
Ngµy con vµo ®¹i häc
MÑ th¾t lưng quÈy liÒm vui ®i cÊy
Vai gÇy nhón nhÈy quang chµnh
Ch©n lÊm tay bïn ®ì m¹ xanh
Tr¶i nçi mõng lªn c¸nh ®ång lam lò
Hµnh trang máng x« nghiªng dßng ch÷
Con ®i gi÷a mïa lò rËp r×nh
Lßng vÊn vu¬ng mét bÕn ®ß xanh
S©n truêng th¬m bãng bµng chê ®îi
N¬i Êy vßm trêi cao vêi vîi
Lêi thµy c« ch©n trêi ưíc m¬
Muêi hai bÕn líp con qua
Ch÷ thÇy c¬m mÑ ¸o cha
MiÒn ®Êt l¹ kh«ng b¹c lßng khoai s¾n
NÐt mùc tÝm pha mµu cùc nhäc
Më trang s¸ch s¸ng vµng h¹t thãc
tõ quª nghÌo tÇn t¶o sím trưa
C¶ mïa vµng ®éi nãn tiÔn ®ưa
9/12/2005
Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức Đại hội lần thứ VII và kỉ niệm 45 năm thành lập Hội

Trong 2 ngày 9 và 10-6-2009, tại Cung văn hóa Lao động hữu nghị Việt -Tiệp, Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức Đại hội lần thứ VII (nhiệm kì 2009-2014) và kỉ niệm 45 năm thành lập Hội (1964-2009). Nhà thơ Bằng Việt - Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp cac Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội LH VHNT Hà Nội, nhà thơ Hữu Thỉnh - Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp cac Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, lãnh đạo Hội VHNT của các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Phú Thọ đã về chung vui với gần 500 cán bộ, hội viên Hội LH VHNT Hải Phòng. Các đồng chí Dương Anh Điền - Phó Bí thư thường trực Thành ủy, Nguyễn Thị Nghĩa - Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố, Nguyễn Văn Thành - Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân thành phố cùng đại diện cac ban ngành, đoàn thể của thành phố Hải Phòng đã tới dự.
Ngày 15 tháng 1 năm 1964, Ủy ban hành chính thành phố Hải Phòng đã ra quyết định công nhận Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng; ngày này được lấy làm ngày thành lập Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố. 45 năm qua, các thế hệ văn nghệ sĩ Hải Phòng, từ lớp cha anh đã thành danh trước năm 1945 và trong kháng chiến chống Pháp, đến thế hệ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ và ngày nay là thế hệ sinh ra và lớn lên đưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã nối tiếp nhau, bằng tâm huyết và các tác phẩm nghệ thuật đã khắc hoạ một Hải Phòng hào hùng, sinh động với những nhân vật đầy cá tính và những hình tượng nghệ thuật giàu sức sáng tạo, phản ánh vóc dáng của một thành phố đầu sóng ngọn gió vùng cửa biển trung dũng và quyết thắng, góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của thành phố và cả nước.
Báo cáo của BCH Hội nhiệm kì VI trình tại Đại hội đã kiểm điểm hoạt động VHNT Hải Phòng 5 năm qua, đánh giá kết quả hoạt động của 9 Hội chuyên ngành thuộc Hội LH VHNT Hải Phòng, đồng thời nêu quyết tâm trong nhiệm kì 2009-2014 là: Công tác tổ chức cần phải đặt lên hàng đầu vì chỉ có một Ban chấp hành có uy tín, một Ban thường vụ có kinh nghiệm cùng với bộ phận Thường trực năng động, tâm huyết và cơ quan Văn phòng đủ sức đảm đương nhiệm vụ được giao thì các hoạt động VHNT mới được triển khai kịp thời, nhạy bén và sáng tạo. Hội phải đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, hướng vào mục tiêu để có nhiều tác phẩm có giá trị: Hội Liên hiệp và các Hội chuyên ngành cần tăng cường các chuyến đi thâm nhập thực tế để tích lũy vốn sống và tìm cảm xúc sáng tạo. Nhanh chóng thành lập các CLB sáng tác dành cho những cây bút trẻ. Thực hiện tốt việc triển khai Quỹ hỗ trợ sáng tạo của Chính phủ. Tổ chức các cuộc thi sáng tác, hướng tới kỉ niệm 55 năm ngày giải phóng Hải Phòng vào năm 2010. Phối hợp với Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức tốt Liên hoan Ảnh nghệ thuật khu vực đồng bằng sông Hồng, phối hợp với Sở VHTTDL tổ chức cuộc thi Ảnh đẹp du lịch Hải Phòng, phối hợp với huyện Tiên Lãng tổ chức cuộc thi sáng tác mẫu biểu tượng của huyện. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình: Tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu của hoạt động lý luận phê bình trong đời sống VHNT thành phố. Khuyến khích nghiên cứu, phê bình có tính lý luận và học thuật. Đồng thời tiếp tục phát huy những hình thức, giới thiệu, bình giá tác phẩm. Phê bình phải thẳng thắn, lành mạnh trên tinh thần đoàn kết, sáng tạo. Khẩu trương xuất bản công trình 45 năm Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng. Tăng cường vai trò tư vấn tập thể của Hội trong lĩnh vực kiến trúc quy hoạch và quản lý đô thị, trong việc đặt tên, đổi tên đường phố và công trinh công cộng cùng các lĩnh vực khác có liên quan đến văn hoá văn nghệ. Thúc đẩy các hình thức công bố, trình diễn tác phẩm. Hội sẽ tăng cường đầu tư vào công tác xuất bản, triển lãm, đầu tư và xem xét các giải thưởng, nhằm đưa đến công chúng những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật... Tiếp tục cải tiến nội dung và hình thức của Cửa biển theo đúng tôn chỉ được nêu: Tạp chí sáng tác, nghiên cứu, phê bình và thông tin văn học nghệ thuật, là cơ quan ngôn luận của Hội và là diễn đàn của văn nghệ sĩ đất Cảng. Tích cực triển khai việc tăng kì xuất bản tháng/kì. Xúc tiến việc đưa tạp chí Cửa biển hoạt động như một cơ quan báo chí độc lập với Văn phòng cơ quan Hội. Toàn thể hội viên có trách nhiệm hơn với Tạp chí, tích cực viết bài, quảng bá và đóng góp ý kiến xây dựng Tạp chí ngày càng phát triển. Cùng với tạp chí Cửa biển, cần nhanh chóng xây dựng Trang thông tin điện tử của Hội nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người Hải Phòng - Việt Nam thông qua các tác phẩm VHNT của văn nghệ sĩ thành phố. Đẩy mạnh các hoạt động Văn phòng với tinh thần trách nhiệm cao, chu đáo, văn minh, lịch thiệp, năng động, sáng tạo. Kiến nghị việc tăng cường cơ sở vật chất của Hội. Tiếp tục việc thu hồi phần diện tích của Hội bị lấn chiếm. Hội viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, cộng tác, giúp đỡ Văn phòng hoàn thành tốt công việc. Tăng cường các hoạt động xã hội, hoạt động giao lưu tạo mối liên hệ găn bó mật thiệt với các ban ngành, đoàn thể, đơn vị trên địa bàn thành phố, với các hội chính trị xã hội nghề nghiệp trong cả nước và đẩy mạnh công tác xã hội hoá, đưa hoạt động của Hội Liên hiệp, các Hội chuyên ngành và của từng hội viên hoà nhập với đời sống xã hội.
Phat biểu chỉ đạo Đại hội, nhà thơ Bằng Việt - Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp cac Hội VHNT Việt Nam, và đồng chí Dương Anh Điền - Phó Bí thư thường trực Thành ủy Hải Phòng, đã biểu dương thành tích đã đạt được trong 5 năm vừa qua của hoạt động VHNT Hải Phòng, chỉ ra những yếu kém mà Hội LH VHNT Hải Phòng cần bàn biện pháp khắc phục và mong muốn đội ngũ văn nghệ sĩ Hải Phòng phát huy truyền thống 45 năm xây dựng và trưởng thành của Hội, đìan kết, sáng tạo những tác phẩm lớn, đóng góp xứng đáng cho nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam, góp phần tích cực vào sự phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc của Hải Phòng, hi vọng trong 5 năm tới đây sẽ có một nhiệm kì hoạt dộng hiệu quả như mục tiêu mà Đại hội đề ra: "Vì một nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế".
Đại hội đã nghe 4 bản tham luận và 7 ý kiến phát biểu của các hội viên đề xuất những vấn đề liên quan trong học thuật và công tác Hội. Đại hội cũng thông qua Báo cáo về sửa đổi một số điều khoản của Điều lệ Hội, bầu Ban Chấp hành Hội LH VHNT Hải Phòng khóa VII gồm 19 người.
Nhân dịp này, nhiều tập thể và cá nhân được nhận Kỉ niệm chương "Vì sự phát triển VHNT Việt Nam", Bằng khen của Ủy ban toàn quôc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
Hội nghị lần thứ nhất BCH Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng khóa VII đã bầu Ban Thường vụ Hội gồm 6 người, bầu chức danh Chủ tịch là nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ, chức danh Pho Chủ tịch Hội là họa sĩ Quang Ngọc và nghệ sĩ ưu tú Đăng Toàn.
HOÀI KHÁNH
Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức Đại hội lần thứ VII và kỉ niệm 45 năm thành lập Hội
Trong 2 ngày 9 và 10-6-2009, tại Cung văn hóa Lao động hữu nghị Việt -Tiệp, Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức Đại hội lần thứ VII (nhiệm kì 2009-2014) và kỉ niệm 45 năm thành lập Hội (1964-2009). Nhà thơ Bằng Việt - Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp cac Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội LH VHNT Hà Nội, nhà thơ Hữu Thỉnh - Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp cac Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, lãnh đạo Hội VHNT của các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Phú Thọ đã về chung vui với gần 500 cán bộ, hội viên Hội LH VHNT Hải Phòng. Các đồng chí Dương Anh Điền - Phó Bí thư thường trực Thành ủy, Nguyễn Thị Nghĩa - Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố, Nguyễn Văn Thành - Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân thành phố cùng đại diện cac ban ngành, đoàn thể của thành phố Hải Phòng đã tới dự.
Ngày 15 tháng 1 năm 1964, Ủy ban hành chính thành phố Hải Phòng đã ra quyết định công nhận Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng; ngày này được lấy làm ngày thành lập Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố. 45 năm qua, các thế hệ văn nghệ sĩ Hải Phòng, từ lớp cha anh đã thành danh trước năm 1945 và trong kháng chiến chống Pháp, đến thế hệ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ và ngày nay là thế hệ sinh ra và lớn lên đưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã nối tiếp nhau, bằng tâm huyết và các tác phẩm nghệ thuật đã khắc hoạ một Hải Phòng hào hùng, sinh động với những nhân vật đầy cá tính và những hình tượng nghệ thuật giàu sức sáng tạo, phản ánh vóc dáng của một thành phố đầu sóng ngọn gió vùng cửa biển trung dũng và quyết thắng, góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của thành phố và cả nước.
Báo cáo của BCH Hội nhiệm kì VI trình tại Đại hội đã kiểm điểm hoạt động VHNT Hải Phòng 5 năm qua, đánh giá kết quả hoạt động của 9 Hội chuyên ngành thuộc Hội LH VHNT Hải Phòng, đồng thời nêu quyết tâm trong nhiệm kì 2009-2014 là: Công tác tổ chức cần phải đặt lên hàng đầu vì chỉ có một Ban chấp hành có uy tín, một Ban thường vụ có kinh nghiệm cùng với bộ phận Thường trực năng động, tâm huyết và cơ quan Văn phòng đủ sức đảm đương nhiệm vụ được giao thì các hoạt động VHNT mới được triển khai kịp thời, nhạy bén và sáng tạo. Hội phải đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, hướng vào mục tiêu để có nhiều tác phẩm có giá trị: Hội Liên hiệp và các Hội chuyên ngành cần tăng cường các chuyến đi thâm nhập thực tế để tích lũy vốn sống và tìm cảm xúc sáng tạo. Nhanh chóng thành lập các CLB sáng tác dành cho những cây bút trẻ. Thực hiện tốt việc triển khai Quỹ hỗ trợ sáng tạo của Chính phủ. Tổ chức các cuộc thi sáng tác, hướng tới kỉ niệm 55 năm ngày giải phóng Hải Phòng vào năm 2010. Phối hợp với Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức tốt Liên hoan Ảnh nghệ thuật khu vực đồng bằng sông Hồng, phối hợp với Sở VHTTDL tổ chức cuộc thi Ảnh đẹp du lịch Hải Phòng, phối hợp với huyện Tiên Lãng tổ chức cuộc thi sáng tác mẫu biểu tượng của huyện. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình: Tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu của hoạt động lý luận phê bình trong đời sống VHNT thành phố. Khuyến khích nghiên cứu, phê bình có tính lý luận và học thuật. Đồng thời tiếp tục phát huy những hình thức, giới thiệu, bình giá tác phẩm. Phê bình phải thẳng thắn, lành mạnh trên tinh thần đoàn kết, sáng tạo. Khẩu trương xuất bản công trình 45 năm Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng. Tăng cường vai trò tư vấn tập thể của Hội trong lĩnh vực kiến trúc quy hoạch và quản lý đô thị, trong việc đặt tên, đổi tên đường phố và công trinh công cộng cùng các lĩnh vực khác có liên quan đến văn hoá văn nghệ. Thúc đẩy các hình thức công bố, trình diễn tác phẩm. Hội sẽ tăng cường đầu tư vào công tác xuất bản, triển lãm, đầu tư và xem xét các giải thưởng, nhằm đưa đến công chúng những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật... Tiếp tục cải tiến nội dung và hình thức của Cửa biển theo đúng tôn chỉ được nêu: Tạp chí sáng tác, nghiên cứu, phê bình và thông tin văn học nghệ thuật, là cơ quan ngôn luận của Hội và là diễn đàn của văn nghệ sĩ đất Cảng. Tích cực triển khai việc tăng kì xuất bản tháng/kì. Xúc tiến việc đưa tạp chí Cửa biển hoạt động như một cơ quan báo chí độc lập với Văn phòng cơ quan Hội. Toàn thể hội viên có trách nhiệm hơn với Tạp chí, tích cực viết bài, quảng bá và đóng góp ý kiến xây dựng Tạp chí ngày càng phát triển. Cùng với tạp chí Cửa biển, cần nhanh chóng xây dựng Trang thông tin điện tử của Hội nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người Hải Phòng - Việt Nam thông qua các tác phẩm VHNT của văn nghệ sĩ thành phố. Đẩy mạnh các hoạt động Văn phòng với tinh thần trách nhiệm cao, chu đáo, văn minh, lịch thiệp, năng động, sáng tạo. Kiến nghị việc tăng cường cơ sở vật chất của Hội. Tiếp tục việc thu hồi phần diện tích của Hội bị lấn chiếm. Hội viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, cộng tác, giúp đỡ Văn phòng hoàn thành tốt công việc. Tăng cường các hoạt động xã hội, hoạt động giao lưu tạo mối liên hệ găn bó mật thiệt với các ban ngành, đoàn thể, đơn vị trên địa bàn thành phố, với các hội chính trị xã hội nghề nghiệp trong cả nước và đẩy mạnh công tác xã hội hoá, đưa hoạt động của Hội Liên hiệp, các Hội chuyên ngành và của từng hội viên hoà nhập với đời sống xã hội.
Phat biểu chỉ đạo Đại hội, nhà thơ Bằng Việt - Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp cac Hội VHNT Việt Nam, và đồng chí Dương Anh Điền - Phó Bí thư thường trực Thành ủy Hải Phòng, đã biểu dương thành tích đã đạt được trong 5 năm vừa qua của hoạt động VHNT Hải Phòng, chỉ ra những yếu kém mà Hội LH VHNT Hải Phòng cần bàn biện pháp khắc phục và mong muốn đội ngũ văn nghệ sĩ Hải Phòng phát huy truyền thống 45 năm xây dựng và trưởng thành của Hội, đìan kết, sáng tạo những tác phẩm lớn, đóng góp xứng đáng cho nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam, góp phần tích cực vào sự phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc của Hải Phòng, hi vọng trong 5 năm tới đây sẽ có một nhiệm kì hoạt dộng hiệu quả như mục tiêu mà Đại hội đề ra: "Vì một nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế".
Đại hội đã nghe 4 bản tham luận và 7 ý kiến phát biểu của các hội viên đề xuất những vấn đề liên quan trong học thuật và công tác Hội. Đại hội cũng thông qua Báo cáo về sửa đổi một số điều khoản của Điều lệ Hội, bầu Ban Chấp hành Hội LH VHNT Hải Phòng khóa VII gồm 19 người.
Nhân dịp này, nhiều tập thể và xá nhân được nhận Kỉ niệm chương "Vì sự phát triển VHNT Việt Nam", Bằng khen của Ủy ban toàn quôc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
Hội nghị lần thứ nhất BCH Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng khóa VII đã bầu Ban Thường vụ Hội gồm 6 người, bầu chức danh Chủ tịch là nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ, chức danh Pho Chủ tịch Hội là họa sĩ Quang Ngọc và nghệ sĩ ưu tú Đăng Toàn.
HOÀI KHÁNH
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
ĐẤT NƯỚC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Tô Hoàng Vũ
Nhiệm kỳ VI Hội LHVHNT Hải Phòng diễn ra trong hoàn cảnh có nhiều thuận lợi. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước 10 năm (2001- 2010) của Đảng đã hoàn thành được gần trọn chặng đường với những kết quả khả quan. Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" đi vào đời sống văn học nghệ thuật. Giờ đây, chúng ta đang đứng trước những năm tháng bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI. Đó chính là nguồn cảm xúc vô tận cho sáng tạo nghệ thuật, hứa hẹn nhiều tác phẩm có giá trị ra đời. Được sự lãnh đạo, chỉ đạo và sự quan tâm của các cấp các ngành từ trung ương đến thành phố, Hội Liên hiệp VHNT nhiệm kỳ (2004- 2009) đã đảm bảo đều đặn các hoạt động. Trại sáng tác từ năm 2006 đến nay, mức đầu tư cho từng người được tăng lên để phù hợp với thực tế và số lượng trại cũng được tăng thêm nhờ phương thức xã hội hoá. Các văn nghệ sĩ Hải Phòng đã có những chuyến đi thực tế tại Huế, Đà Nẵng, Hội An, Lạng Sơn, đặc biệt là trong hai năm 2007, 2008 nhiều hội viên được đi thực tế tại các làng nghề và Khu công nghiệp phía Bắc Thuỷ Nguyên, Khu kinh tế Đình Vũ, Khu dự trữ sinh quyển và Trung tâm phát triển nghề cá tại Cát Bà. Hội Liên hiệp còn phối hợp với Nhà thiếu nhi thành phố mở Trại sáng tác chuyên đề, 19 tác giả tham gia đã hoàn thành 40 tác phẩm cho tuổi thơ. Hội cũng phối hợp với các Nhà sáng tác của Bộ VHTTDL, của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và các Hội chuyên ngành trung ương tổ chức cho hội viên của mình sáng tác được nhiều tác phẩm thông qua các trại sáng tác ở Nha Trang, Vũng Tàu, Đại Lải, Đồng Mô, Nam Định, Hà Nội v.v...
Hằng năm Hội duy trì đều đặn hai cuộc Triển lãm Ảnh nghệ thuật và Triển lãm Mỹ thuật Hải Phòng, ngoài ra Hội còn tổ chức xét chọn các tác phẩm tham gia Liên hoan Ảnh nghệ thuật và Triển lãm Mỹ thuật khu vực Đồng bằng sông Hồng. Tại Liên hoan Ảnh nghệ thuật Sông Hồng 2008 tại Bắc Ninh, giới nhiếp ảnh Hải Phòng xếp thứ nhất với 3 giải Vàng, Bạc đồng đội và cá nhân. Đặc biệt, năm 2008 Hội đã tổ chức thành công Triển lãm Mỹ thuật Hải Phòng trước công chúng Thủ đô tại Nhà triển lãm số 16 Ngô Quyền của Hội Mỹ thuật Việt Nam. 54 tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, đồ hoạ được trưng bày là những tác phẩm mới , phản ánh sâu sắc về cuộc sống, con người thành phố Cảng trong quá trình hội nhập và phát triển.
Với Tạp chí Cửa biển, trong nhiệm kỳ qua có mấy sự kiện nổi bật: Thứ nhất là tiến hành bình chọn, trao thưởng hàng năm cho các tác phẩm hay trên Tạp chí. Năm 2003 mới chỉ xét thơ và văn xuôi thì từ năm 2006 tới nay đã mở rộng tới 8 loại hình. Thứ hai là vào năm 2005, lần đầu tiên kể từ khi thành lập Hội (năm 1964), Tạp chí đã tổ chức cuộc thi thơ và truyện ngắn của riêng mình. Gần 1000 bài thơ và hơn 100 truyện ngắn của 148 lượt tác giả trong cả nước đã gửi tác phẩm dự thi. Thứ ba là Tạp chí đã có những cải tiến đáng kể từ hình thức đến nội dung và mở thêm các chuyên mục mới. Thứ tư là ngoài Hội Liên hiệp và một số Hội chuyên ngành, Tạp chí Cửa biển còn chủ động tổ chức cho các văn nghệ sĩ là phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên của Tạp chí đi thực tế sáng tác.
Hằng năm, Hội còn biên soạn và xuất bản ít nhất 1 đầu sách. Tính đến nay, đã có 6/9 Hội chuyên ngành ra được kỷ yếu hoặc tuyển tập tác phẩm trong bộ sách thành tựu những năm đổi mới. Hội Nhạc sĩ còn tổ chức biên soạn và xuất bản tuyển tập ca khúc thiếu nhi trong nửa thế kỷ với tên gọi Quê em vùng biển. Hội Liên hiệp phối hợp với Nhà xuất bản Hải Phòng in và phát hành Lịch bàn 2008 đề thơ và in tranh ảnh của hội viên . Hội cũng đã xuất bản công trình Văn học Hải Phòng qua các giải thưởng trong 50 năm. Đây là tập I của bộ sách về giải thưởng VHNT của văn nghệ sĩ Hải Phòng, tập II được dành cho các bộ môn nghệ thuật.
Trong nhiệm kỳ, Hội đã tổ chức truyền đạt kết luận của Hội nghị Trung ương khoá 9, nghiên cứu quán triệt Nghị quyết 23 Bộ Chính trị; Mở lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế WTO, nghe nói chuyện về thời sự văn học, về mối quan hệ giữa văn hoá và văn học nghệ thuật... Đặc biệt, Hội đã hoàn thành chuyên đề khoa học cấp thành phố "Về thực trạng và giải pháp phát triển VHNT thành phố đến năm 2010". Hội đã tham dự hội thảo "Công tác lý luận phê bình VHNT ở các hội địa phương- Thực trạng và giải pháp" do 8 hội VHNT các tỉnh thành phố phía Bắc tổ chức tại Phú Thọ; Và mới đây tại Quảng Ninh, Hội đã cử 9 hội viên dự lớp tập huấn về công tác lý luận phê bình VHNT do Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương tổ chức.
Sau 3 năm gián đoạn, thành phố đã khôi phục lại Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng chỉ xét 5 năm/ lần chứ không xét hằng năm như trước. Hội được giao nhiệm vụ tư vấn xét giải cho UBND thành phố. Chúng ta đã tiến hành 3 lần xét Giải thưởng VHNT Hải Phòng cho các tác giả. Lần 1 công bố từ 2001 - đến 2007, đã có có 33 tác phẩm của 36 lượt tác giả được giải. Nhân kỷ niệm 90 năm sinh nhà văn Nguyên Hồng- Vị Chủ tịch đầu tiên của Hội VHNT Hải Phòng, xét đề nghị của Hội, UBND thành phố quyết định đổi tên Giải thưởng VHNT Hải Phòng thành Giải thưởng Nguyên Hồng. Đây là tin vui không chỉ của những người làm VHNT đất Cảng. Như vậy, lần xét giải thứ 4 (2008-2009) sắp tới, giải sẽ mang tên nhà văn Nguyên Hồng yêu quý của chúng ta. Từ năm 2004, Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam chuyển kinh phí cho các Hội địa phương đầu tư hỗ trợ sáng tác. Chúng ta đã làm tương đối tốt việc này. Hầu hết các tác giả được đầu tư, đã nộp đủ tác phẩm để nghiệm thu.
Tháng 8/ 2005 nhà báo, nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ được bầu làm Phó chủ tịch Hội và từ Đài Phát thanh Truyền hình chuyển công tác về Hội, được bổ nhiệm làm Tổng biên tập. Tháng 1/ 2007 được Ban chấp hành bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT, tháng 12 cùng năm được Đại hội Hội Nhà báo thành phố bầu làm Phó Chủ tịch. Tháng 7/2007 căn cứ Nghị quyết hội nghị trung ương 4 (khoá X), Ban thường vụ Thành uỷ đã ra Quyết định tái thành lập Đảng đoàn Hội Liên hiệp VHNT gồm các đồng chí: Tô Hoàng Vũ (Bí thư), Vũ Quốc Văn, Nguyễn Đức Chính (ủy viên). Nhiệm kỳ qua, Hội đã kết nạp được 108 hội viên, nâng tổng số hội viên của Hội là 488 trong đó gần một nửa là hội viên trung ương. Tuy nhiên căn cứ theo Điều lệ Hội, cũng đã có 7 hội viên bị xoá tên gồm: 4 người ở Hội Văn nghệ dân gian, 2 người ở Hội Điện ảnh Truyền hình và 1 người ở Hội Nghệ sĩ Múa. Các Hội chuyên ngành cần làm cho hội viên hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi đã tình nguyện gia nhập Hội.
Ngày thơ Việt Nam đã trở thành nền nếp và được Hội tổ chức tại nhiều địa điểm: Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng, Thư viện thành phố, Cung Văn hoá Việt - Tiệp. Mỗi năm một vẻ. Cuộc Triển lãm thơ năm 2007 để lại nhiều ấn tượng. Sự có mặt của đồng chí Dương Anh Điền- Phó Bí thư thường trực Thành uỷ, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng, của đồng chí Nguyễn Đình Then- Uỷ viên thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành uỷ trong Ngày thơ 3 năm qua thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo thành phố đối với các văn nghệ sĩ. Trong Ngày thơ Việt Nam, các Nhà văn hoá, các Câu lạc bộ thơ cũng tổ chức sinh hoạt, chứng tỏ Ngày thơ đã trở thành một phong trào quần chúng, một nét văn hoá không thể thiếu được của công chúng yêu thơ Hải Phòng.
Hội có 6 thành viên tham gia Hội đồng kiến trúc quy hoạch - cơ quan tư vấn cho UBND thành phố trong việc xét duyệt các đồ án quy hoạch và các công trình xây dựng có quy mô lớn và vị trí đặc biệt. Trong 5 năm qua, đã tham gia xét duyệt trình UBND thành phố chấp thuận hàng chục đồ án xây dựng trên địa bàn thành phố. Các hội viên tham gia Hội đồng tư vấn đổi tên, đặt tên đường phố và công trình công cộng thành phố cũng đã tận tâm hoàn thành nhiệm vụ, nhất là tư vấn việc đặt tên các danh nhân, các văn nghệ sĩ hoặc địa danh liên quan đến VHNT. Ngoài ra, để mở rộng sân chơi sáng tạo nghệ thuật cho hội viên, Hội đã kết hợp với UBND huyện Thuỷ Nguyên tổ chức thành công Cuộc thi sáng tác mẫu biểu tượng huyện Thuỷ Nguyên nhân kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống Thuỷ Nguyên quật khởi 25/10/2008.
Với đạo lý uống nước nhớ nguồn, nhân kỷ niệm 25 năm ngày mất của nhà văn Nguyên Hồng, Hội đã tổ chức đoàn văn nghệ sĩ Hải Phòng lên Bắc Giang viếng mộ và thăm gia đình nhà văn. Hội còn phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật Bắc Giang tổ chức kỷ niệm 90 năm sinh nhà văn Nguyên Hồng tại Hà Nội. Những cuộc toạ đàm, giao lưu với các hội bạn Hà Nội, Hà Tây, Đà Nẵng, Hải Dương, Phú Thọ, Băc Giang, Hưng Yên, Thái Bình, Cao Bằng... đã góp phần tăng cường tình đoàn kết, giúp đỡ và học tập nhau kinh nghiệm hoạt động hội.
Ban chấp hành Hội Liên hiệp gồm 21 ủy viên, mỗi năm họp hai lần, đánh giá các hoạt động 6 tháng và cả năm, đề ra phương hướng nhiệm vụ và quyết định các vấn đề lớn. Giữa nhiệm kỳ, Ban chấp hành khuyết một thành viên là hoạ sĩ Mạnh Cường- Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Hải Phòng qua đời do bệnh nặng, một thành viên khác là KTS Hoàng Thị Thịnh theo gia đình chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh chỉ còn lại 19 Uỷ viên Ban chấp hành đảm nhiệm việc lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng. Ban thường vụ gồm 7 ủy viên, có trách nhiệm thực hiện các nghị quyết của Ban chấp hành. Thường trực Hội và Văn phòng Hội giải quyết những công việc cụ thể hằng ngày. Nói chung Ban chấp hành thực hiện đúng các quy định của Điều lệ Hội. đảm bảo tập trung, dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành các hoạt động, bám sát chương trình công tác và nhiệm vụ thành phố giao. Đa số các Uỷ viên Ban chấp hành đã phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, giữ gìn đạo đức lối sống lành mạnh, chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhiệm kỳ vừa qua Ban chấp hành 21 người, nhưng có một số hoạt động không hiệu quả, nhiệm kỳ này nên gọn lại.
Văn phòng cơ quan Hội với trách nhiệm thực hiện nghị quyết của Ban chấp hành đã hoàn thành công việc được giao, đảm bảo kịp thời các khoản kinh phí cho các hoạt động chung của Hội Liên hiệp, của các Hội chuyên ngành và hội viên; quản lý tốt tài sản, công văn, giấy tờ, sản xuất Huy hiệu của Hội; tham mưu những vấn đề liên quan đến cơ sở vật chất của Hội... Được sự quan tâm của thành phố, cơ quan Hội đã được tăng cường thêm những thiết bị phục vụ cho công việc như máy vi tính, máy Fax, máy ảnh KTS, máy ghi âm KTS, máy điều hoà, điện thoại, nối mạng Internet, hộp thư điện tử.
Kết quả đã cho thấy rõ điều đó: Từ các trại sáng tác và các triển lãm, từ nguồn kinh phí hỗ trợ sáng tạo, nhiều tác phẩm đã ra đời và được dư luận đánh giá cao. Điều này được chứng minh ở các giải thưởng văn nghệ sĩ Hải Phòng giành được trong 5 năm qua. Chỉ kể những giải của Nhà nước, của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam, của các Hội chuyên ngành trung ương, của Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch ... chúng ta đã có hàng chục giải, trong đó có 2 giải thưởng Nhà nước về VHNT ngoài ra là việc phong tặng danh hiệu NSUT cho một số văn nghệ sĩ đất Cảng. Mối quan hệ giữa Hội Liên hiệp với các Hội chuyên ngành là mối quan hệ tập trung và thống nhất, nên sự phân định hoạt động chung và hoạt động của các Hội chuyên ngành chỉ mang ý nghĩa tương đối. Tuy nhiên, do đặc thù của từng Hội chuyên ngành, do nội dung hoạt động và năng lực của Ban chấp hành các Hội chuyên ngành có khác nhau, nên việc đánh giá từng Hội chuyên ngành hết sức cần thiết, nhằm khẳng định, biểu dương những thành tích và chỉ ra những hạn chế để cùng học hỏi và rút kinh nghiệm chung.
1. Hội Điện ảnh Truyền hình: Tổ chức được nhiều hoạt động như phối hợp với các Đài truyền hình trung ương và địa phương sản xuất các phim tài liệu và phim truyện, tổ chức hội thảo đóng góp vào Dự án Luật Điện ảnh trình Quốc hội theo đề nghị của Đoàn đại biểu Quốc hội tại Hải Phòng, tổ chức các hoạt động mừng thọ hội viên cao tuổi Hội có những tác giả khá sung sức như Nguyễn Long Khánh, Đoàn Lê, Đình Kính, Tuấn Tiến nên nhiều kịch bản phim truyện nhựa, phim truyện video ra đời. Có những kịch bản phim dài hàng chục tập được Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất như: Trận cầu đinh, Trò đùa số phận, Đất thiêng, Những trận cầu đen, Cổ vật... Một số phim tài liệu nghệ thuật như Lửa thiêng, Khát vọng mùa trăng, Con mắt Nguyên Hồng... đã được nhận giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam và Liên hoan truyền hình toàn quốc. NSND, đạo diễn Đào Trọng Khánh được tặng Giải thưởng Nhà nước về các tác phẩm điện ảnh. Các hội viên khác như Văn Báu, Ngọc Thơ, Viết Liên, Viết Linh, Xuân Thảo được mời đóng các phim dài tập trong nước. Hội Điện ảnh Truyền hình có 2 đầu sách được xuất bản. Với tinh thần tương thân tương ái, Hội Điện ảnh Truyền hình đã tổ chức Triển lãm tranh mùa xuân và bán tranh của hội viên, cộng tác viên để ủng hộ các nạn nhân chất độc màu da cam thông qua Hội Chữ thập đỏ Hải Phòng.
2. Hội Kiến trúc sư: Tham gia công tác lập, thiết kế quy hoạch nổi bật là Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng và phát triển thành phố đến năm 2025, tầm nhìn năm 2050 với những định hướng có tính đột phá về đô thị Hải Phòng trong mục tiêu phát triển bền vững. Lập quy hoạch chi tiết Khu Bắc sông Cấm; Quy hoạch các Khu đô thị và công nghiệp có quan hệ tới cảng nước sâu, đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng, đường cao tốc ven biển... Thiết kế các công trình xây dựng tại các Khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị cũ và các công trình như: Bệnh viện Việt Tiệp; Trường năng khiếu Trần Phú; Khu chung cư cao cấp Cozyvill; Khu nghỉ dưỡng sân Golf sông Giá; Khu công nghiệp Đình Vũ... Năm 2005 phối hợp với Hội Liên hiệp xuất bản cuốn Kiến trúc sư Hải Phòng- chân dung và tác phẩm, một ấn phẩm đẹp có chất lượng của thành phố.
3. Hội Nghệ sĩ Múa: Tuy số lượng hội viên ít nhưng đã đóng góp nhiều tác phẩm cho Hội thi múa thiếu nhi, dàn dựng tiết mục các ngành tham dự Hội diễn ca múa nhạc thành phố và các bộ ngành, đặc biệt là chương trình kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng thành phố. Năm 2004 tiến hành hội thảo "Công tác đào tạo và xây dựng tác phẩm múa minh hoạ cho ca khúc". Năm 2006 Hội phối hợp với Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam tổ chức 2 lớp biên đạo múa phong trào. Các hội viên trong các Đoàn nghệ thuật đã đóng góp tích cực trong những chương trình tiết mục của đoàn. Có lẽ không thể đòi hỏi gì hơn nữa với các nghệ sĩ Múa.
4. Hội Mỹ thuật: Hằng năm có ít nhất 3 triển lãm mỹ thuật dành cho các hoạ sĩ Hải Phòng: Đó là Triển lãm hội thành phố, Triển lãm của khu vực đồng bằng sông Hồng và triển lãm của Trung tâm Triển lãm và mỹ thuật Hải Phòng. Nhiệm kỳ vừa qua có nhiều triển lãm nhóm và triển lãm cá nhân của Quốc Thái, Nguyễn Hà, Viết Lục tại Hà Nội và Lê Viết Sử, Nguyễn Hà - Đặng Tiến, Trọng Khải, Nguyễn Mạnh và 2 cha con họa sĩ Trần Đình Diệu. Riêng Nguyễn Viết Lục có 3 cuộc triển lãm cá nhân tại Hà Nội, Hải Phòng, Cát Bà. Nhưng đã lâu lắm những người yêu mỹ thuật thành phố mới có niềm vui như dịp 13/5/2008 nhân kỷ niệm ngày giải phóng Hải Phòng khi Triển lãm mỹ thuật Hải Phòng được mở bề thế, sôi động tại 16 Ngô Quyền, Hà Nội. Nói chung các hoạ sĩ Hải Phòng khá bận rộn và có không ít cơ hội. Tuy vậy, sau nhiều năm ở vị trí hàng đầu khu vực, gần đây số giải của Hải Phòng tại các triển lãm toàn quốc và khu vực không nhiều chất lượng giải cũng không cao. Một số hoạ sĩ sáng tác ít đi, một số đi theo lối mòn. Tuy giải thưởng không phải là điều quan tâm duy nhất và quá quan trọng đối với người nghệ sĩ, nhưng có lẽ một số hoạ sĩ cũng cần dành thời gian để suy ngẫm về sáng tác mình để đổi mới trong sáng tạo.
5. Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh: Do đặc thù nghề nghiệp, các nghệ sĩ nhiếp ảnh là những người bám sát thực tế nhất. Hội thường tổ chức những chuyến đi nhiều người hoặc vài ba người. Có những chuyến đi tận Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh... Một số hội viên còn đi sáng tác xuyên Việt hoặc sang cả Lào, Campuchia, Thái Lan. Mỗi chuyến đi các nghệ sĩ nhiếp ảnh mang về trên dưới 200 ảnh, chọn treo khoảng 60, 70 bức. Hội Nhiếp ảnh Việt Nam và các Hội bạn cũng thường mời một số nhiếp ảnh gia Hải Phòng tham gia những chuyến đi dài ngày, những cuộc thi sáng tác, điều đó chứng tỏ uy tín của các tay máy Hải Phòng. Hoạt động của Hội Nhiếp ảnh khá nề nếp, mỗi tháng sinh hoạt một lần tại Trụ sở Hội Liên hiệp, Hội Nhiếp ảnh còn làm tốt công xã hội hoá khi vận động các doanh nghiệp tài trợ cho hoạt động sáng tác, triển lãm ảnh. Các nghệ sĩ nhiếp ảnh Hải Phòng 5 năm qua tiếp tục gặt hái nhiều thành tích, đặc biệt ấn tượng là Vũ Dũng với giải Xuất sắc quốc gia, cúp vàng VAPA, 4 Huy chương Vàng, 7 giải Nhất cùng nhiều giải Nhì, Ba và Khuyến khích. Anh hiện sở hữu tới cả 100 giải thưởng nhiếp ảnh các loại. Năm 2007, Phú Hùng, Ngọc Văn, Lê Bội có ảnh triển lãm quốc tế tổ chức tại Việt Nam. Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam đã phong tặng các tước hiệu Nghệ sĩ nhiếp ảnh xuất sắc cho Vũ Dũng, Nghệ sĩ nhiếp ảnh có cống hiến xuất sắc cho Minh Nhật, Tiến Đạt. Nhưng cũng đã đến lúc các nghệ sĩ nhiếp ảnh cần đầu tư hơn nữa cho sáng tạo. So với các hoạ sĩ thì các nghệ sĩ nhiếp ảnh còn ít triển lãm cá nhân. Trong cả nhiệm kỳ, mới có một triển lãm ảnh cá nhân của Nguyên Hải- vốn là người của sân khấu.
6. Hội Nhà văn: Nổi bật nhất là các hoạt động tập thể, mỗi năm thường họp toàn thể hội viên một lần. Ban chấp hành năng động tìm nguồn tài trợ nên mỗi lần họp cũng là một lần gặp gỡ liên hoan vui vẻ. Hội Nhà văn thường tổ chức được các hội thảo có tính quy mô với sự tham gia của các nhà văn, nhà nghiên cứu có tên tuổi. Năm 2005 Hội Nhà văn đã tổ chức hội thảo "Để có tác phẩm hay". Trong nhiệm kỳ, khoảng 100 đầu sách được xuất bản, hàng trăm truyện ngắn và thơ được đăng tải. Một số nhà văn cần mẫn trong sáng tác, coi đó là sự nghiệp lớn của đời mình. Một số tác giả năm nào cũng có đầu sách, như Hoàng Thiềng, Vũ Hoàng Lâm hoặc hoàn thành những tiểu thuyết có dung lượng lớn, như Lưu Văn Khuê, Bùi Ngọc Tấn, Bão Vũ, Đình Kính, Nguyễn Quốc Hùng, Hoài Minh, Cao Năm... Tập truyện ngắn "Nghĩa địa xóm chùa" của Đoàn Lê được dịch và xuất bản tại Mỹ (2005) và Thuỵ Điển (2006). Các nhà văn cũng được nhận nhiều giải thưởng. Đặc biệt, năm 2007 nhà thơ Thi Hoàng đã được nhận Giải thưởng Nhà nước về VHNT. Việc đầu tư mang lại hiệu quả rõ rệt ở một số tác giả. Nhiều tác giả có tác phẩm đang chờ xuất bản. Mặc dù vậy cũng có những nhà văn, nhà thơ nhận đầu tư từ lâu nhưng chưa hoàn thành tác phẩm. Bên cạnh đó, không phải không có những tác phẩm ít giá trị ra đời. Ở Hội Nhà văn, cụ thể là một số nhà thơ, cần tăng cường mối quan hệ thân thiện với nhau hơn nữa.
7. Hội Nhạc sĩ: Tổ chức được một số hoạt động tập thể như đi thực tế sáng tác tại Lạng Sơn, Cát Bà, Đồ Sơn. Hội tham gia tổ chức thành công "Đêm nhạc Duy Thái 2004". Chương trình "Âm vang thành phố Cảng" của các nghệ sĩ, hội viên Đoàn Ca múa tại Hội diễn Ca múa nhạc toàn quốc 1 HC Vàng, 5 HC Bạc tập thể và cá nhân, 50% tác phẩm trong chương trình là của các nhạc sĩ Hải Phòng. Một số nhạc sĩ có tác phẩm được giải thưởng toàn quốc từ năm 2009, Hội xuất bản tập san Sáng tác mới 3 tháng/ kỳ. Đây là hoạt động thiết thực và cần được nhân rộng nhằm động viên phong trào sáng tác của hội viên. Nhìn chung sáng tác âm nhạc của các nhạc sĩ Hải Phòng mang tính trữ tình cổ điển, không sa vào xu hướng ồn ào giải trí. Tuy vậy, âm nhạc Hải Phòng cần phải trẻ trung hơn. Hải Phòng vẫn thiếu những ca khúc hay về thành phố thời kỳ đổi mới. Việc tổ chức sinh hoạt cho hội viên chưa thật phong phú, sinh động. Câu lạc bộ thể nghiệm lập ra nhưng chưa hoạt động.
8. Hội Nghệ sĩ Sân khấu: Sáng tác trước kia là điểm yếu của Hội thì nhiệm kỳ này đã có những bứt phá, có gần 90 kịch bản phục vụ các hội diễn từ cơ sở đến thành phố và các bộ ngành, trong đó 10 tác phẩm đoạt giải. Năm 2005, tại Cuộc thi kịch bản do Cục Văn hoá cơ sở phát động, 4/9 tác phẩm đã được giải. Hội viên lĩnh vực biểu diễn trong các đoàn nghệ thuật Kịch, Chèo, Cải lương, năm 2005 đã mang về 13 HCV, HCB và Bằng khen. Các nghệ sĩ hội viên ở đoàn Chèo dựng vở Sự tích trầu cau, đoàn Cải lương dựng vở Lê Chân, đặc biệt là vở Ngô Quyền để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Hội Nghệ sĩ Sân khấu cần tăng cường sự gắn kết hơn nữa giữa các hội viên, đẩy mạnh hoạt động chuyên môn mang tính tập thể. Việc thu hội phí khó khăn là do hội viên hay do Ban chấp hành thiếu tích cực và thiếu biện pháp đôn đốc, điều này cần phải sớm được giải quyết.
9. Hội Văn nghệ dân gian: Hoạt động khá đều giữa sưu tầm nghiên cứu với diễn xướng, quảng bá. Một số công trình sưu tầm nghiên cứu có giá trị về hội Hát Đúm và du lịch văn hoá, về tạc tượng được xuất bản . Nhiều lời ca cho những bài hát Chèo, hát Xẩm được dàn dựng, giới thiệu trên đài Hải Phòng và trung ương. Đặc biệt công trình Hát Đúm- Phục Lễ- Thuỷ Nguyên của nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Hải và Nguyễn Đỗ Hiển được nhận giải 3 của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và của UBND thành phố. Công trình Du lịch văn hoá Hải Phòng của Trần Phương được nhận giải Khuyến khích của thành phố. Hội Văn nghệ dân gian tích cực tham gia hội thảo, biểu diễn quảng bá, về ca trù nhằm đề nghị UNESCO công nhận Ca trù là di sản văn hoá thế giới. Trong Liên hoan Ca trù toàn quốc tại Hà Tĩnh và Hải Dương các CLB ca trù của Hội đã giành được 6 Huy chương Vàng, 5 Huy chương Bạc cho tập thể và cá nhân, gây bất ngờ cho nhiều người. Câu lạc bộ Ca trù còn tổ chức các canh hát tại Đình Kênh. Hội kết hợp với Trung tâm văn hoá thành phố tổ chức được lớp dạy hát Chèo, hát Xẩm, hát Ca trù cho cơ sở, dựng 3 chương trình biểu diễn tại Đền Hùng và một số trường học. Tuy nhiên Hội Văn nghệ dân gian cần lưu ý đến các hội viên cao tuổi và hoạt động của Chi hội văn nghệ dân gian Vĩnh Bảo.
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23 về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới; đồng thời với mục tiêu: Vì một nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, xin được nêu ra phương hướng, nhiệm vụ và các biện pháp thực hiện trong nhiệm kỳ VII (2009- 2014) như sau:
Công tác tổ chức cần phải đặt lên hàng đầu vì chỉ có một Ban chấp hành có uy tín, một Ban thường vụ có kinh nghiệm cùng với bộ phận Thường trực năng động, tâm huyết và cơ quan Văn phòng đủ sức đảm đương nhiệm vụ được giao thì các hoạt động VHNT mới được triển khai kịp thời, nhạy bén và sáng tạo. Hội phải đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, hướng vào mục tiêu để có nhiều tác phẩm có giá trị: Hội Liên hiệp và các Hội chuyên ngành cần tăng cường các chuyến đi thâm nhập thực tế để tích lũy vốn sống và tìm cảm xúc sáng tạo. Nhanh chóng thành lập các CLB sáng tác dành cho những cây bút trẻ. Thực hiện tốt việc triển khai Quỹ hỗ trợ sáng tạo của Chính phủ. Tổ chức các cuộc thi sáng tác, hướng tới kỷ niệm 55 năm ngày giải phóng Hải Phòng vào năm 2010. Phối hợp với Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức tốt Liên hoan Ảnh nghệ thuật khu vực đồng bằng sông Hồng, phối hợp với Sở VHTTDL tổ chức cuộc thi Ảnh đẹp du lịch Hải Phòng, phối hợp với huyện Tiên Lãng tổ chức cuộc thi sáng tác mẫu biểu tượng của huyện. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình: Tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu của hoạt động lý luận phê bình trong đời sống VHNT thành phố. Khuyến khích nghiên cứu, phê bình có tính lý luận và học thuật. Đồng thời tiếp tục phát huy những hình thức, giới thiệu, bình giá tác phẩm. Phê bình phải thẳng thắn, lành mạnh trên tinh thần đoàn kết, sáng tạo. Khẩu trương xuất bản công trình "45 năm Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng". Tăng cường vai trò tư vấn tập thể của Hội trong lĩnh vực kiến trúc quy hoạch và quản lý đô thị, trong việc đặt tên, đổi tên đường phố và công trinh công cộng cùng các lĩnh vực khác có liên quan đến văn hoá văn nghệ. Thúc đẩy các hình thức công bố, trình diễn tác phẩm. Hội sẽ tăng cường đầu tư vào công tác xuất bản, triển lãm, đầu tư và xem xét các giải thưởng, nhằm đưa đến công chúng những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật... Tiếp tục cải tiến nội dung và hình thức của Cửa biển theo đúng tôn chỉ được nêu: Tạp chí sáng tác, nghiên cứu, phê bình và thông tin văn học nghệ thuật, là cơ quan ngôn luận của Hội và là diễn đàn của văn nghệ sĩ đất Cảng. Tích cực triển khai việc tăng kỳ xuất bản tháng/ kỳ. Xúc tiến việc đưa tạp chí Cửa biển hoạt động như một cơ quan báo chí độc lập với Văn phòng cơ quan Hội. Toàn thể hội viên có trách nhiệm hơn với Tạp chí, tích cực viết bài, quảng bá và đóng góp ý kiến xây dựng Tạp chí ngày càng phát triển. Cùng với tạp chí Cửa biển, cần nhanh chóng xây dựng Trang thông tin điện tử của Hội nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người Hải Phòng - Việt Nam thông qua các tác phẩm VHNT của văn nghệ sĩ thành phố. Đẩy mạnh các hoạt động Văn phòng với tinh thần trách nhiệm cao, chu đáo, văn minh, lịch thiệp, năng động, sáng tạo. Kiến nghị việc tăng cường cơ sở vật chất của Hội. Tiếp tục việc thu hồi phần diện tích của Hội bị lấn chiếm. Hội viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, cộng tác, giúp đỡ Văn phòng hoàn thành tốt công việc. Tăng cường các hoạt động xã hội, hoạt động giao lưu tạo mối liên hệ găn bó mật thiệt với các ban ngành, đoàn thể, đơn vị trên địa bàn thành phố, với các hội chính trị xã hội nghề nghiệp trong cả nước và đẩy mạnh công tác xã hội hoá, đưa hoạt động của Hội Liên hiệp, các Hội chuyên ngành và của từng hội viên hoà nhập với đời sống xã hội.
Trên đây là hoạt động của nhiệm kỳ VI và phương hướng công tác nhiệm kỳ VII. Với các thành tựu đã đạt được cùng những kinh nghiệm đã tích luỹ; Đặc biệt, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, của Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố, sự cộng tác, giúp đỡ của, các cấp ngành địa phương và đơn vị cùng sự đồng tâm hiệp lực của Ban chấp hành các Hội chuyên ngành, của toàn thể cán bộ, hội viên và nhân viên Hội, chúng ta tin tưởng sẽ có một nhiệm kỳ hoạt dộng hiệu quả như mục tiêu đã đề ra: "Vì một nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế"./.
Đọc lại Khổng Tử để hiểu con người hiện đại | |
Vương Trí Nhàn | |
Nhiều năm làm nghề phê bình văn học, song mấy năm nay, mỗi lần cầm trên tay một sáng tác, dù văn hay thơ, tôi đều rất ngại. Đọc vào cứ thấy tức tức. Hoặc đây không phải văn chương, hoặc cảm quan văn học mình bị hỏng. Để giải tỏa mối nghi ngờ bản thân, tôi quay lại đọc văn chương quá khứ, đại khái như Nửa chừng xuân, Gió đầu mùa, Chí Phèo, hoặc Tiếng thu, Lửa thiêng. Thì vẫn thấy mình bị hấp dẫn, nghĩa là mình không có lỗi... Đành buông hẳn sáng tác đương thời, mà đặt toàn bộ công sức vào việc quay trở lại với văn chương cũ. Tưởng đó chỉ là chuyện riêng của mình, hóa ra có nhiều người trong nhiều lĩnh vực khác cũng đang nghĩ vậy. Báo chí đưa tin loại sách cổ điển đang trở lại với người ta. Trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế, châu Âu đang đọc lại Mác. Cũng như ở Trung Quốc, người ta đọc lại các nhà triết học thời Bách gia chư tử. Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Trên nét lớn có thể ngờ rằng nay là lúc nhiều người đang bối rối trước đời sống trước mắt, và không tìm ra cách cắt nghĩa các hiện tượng đang xảy ra, nên đành tìm cách khác, hoặc đi đường vòng hoặc lùi xa hơn, chứ không quá chăm chú vào các sự việc trước mắt. Ta đặt mình vào vị thế người xưa. Thấy xã hội xưa nay vẫn vậy, kiếp người xưa nay vẫn vậy, ta yên lòng mà sống... Lấy ví dụ như trường hợp cuốn Luận ngữ của Khổng Tử. Bên cạnh nguyên văn, sách được các nhà khoa học Trung Hoa lục địa chú giải và "dịch" ra ngôn ngữ hiện đại. Hàng chục triệu bản loại này đã được in ra trong mươi năm gần đây. Lại còn loại sách mà ở Việt Nam mình hay gọi là "ăn theo", thật ra là sách giải thích các bộ kinh điển nói trên. Vu Đan với Luận ngữ tâm đắc là một kỳ tích của giới nghiên cứu và xuất bản truyền thông Trung Quốc. Bản in cuốn sách này mà tôi đang có trong tay ghi rõ là đến tháng 7-2008 đã in tới 31 lần, tổng cộng 4,75 triệu bản (có tin là sách in lậu cũng phải dăm triệu nữa, tổng cộng lên tới cả chục triệu bản). Sự vồ vập này được cắt nghĩa từ nhiều góc độ. Có người nói Trung Quốc đang phương Tây hóa quá đậm, phải lo bảo nhau quay về cội nguồn. Đằng sau sự huy hoàng của phát triển là những băng hoại đến từ cuộc va chạm giữa hai nền văn minh. "Một quốc gia đã quen với việc coi các giá trị đạo đức đứng trên tất cả bỗng nhiên thấy mình lâm vào tình trạng phi chuẩn mực. Điều này tạo nên những lo âu không thể tháo gỡ" - "Sự sụp đổ các giá trị và làn sóng đổ xô vào làm giàu với tiền là thước đo thành công duy nhất đã khiến cho nhiều người cảm thấy hoang mang và mất mát... Có rất nhiều tâm hồn bị thương tổn. Người ta phải tìm kiếm điều gì đó để tin và bám lấy". "Luận ngữ dành để dạy chúng ta cách làm thế nào để đạt được hạnh phúc tinh thần, điều chỉnh những thói thường và tìm ra vị trí của mình trong xã hội hiện đại". Trong phạm vi một bài báo nhỏ, tôi chỉ tạm giới hạn mấy lời giới thiệu như vậy, dưới đây mạn phép trình bày một khía cạnh thu hoạch riêng. Khổng Tử thường được hậu thế xem như một người đưa ra những lề luật mà người ta phải theo trong phép xử thế. Khi những lề luật này được đẩy lên thành những ràng buộc nghiệt ngã thì ông trở nên một đối tượng khiến nhiều người căm ghét. Song, đọc Luận ngữ, tôi lại cảm thấy ông là một người rất biết điều, do đó rất dễ gần. Làm nền cho những đề nghị đôi khi quá phiền phức là một nhận thức sâu sắc về con người, nhất là những chỗ yếu, cái phần bản năng tự nhiên, cái phần bùn lầy ngầu đục tự phát hầu như ai cũng có. Thuyết tính thiện về sau mới được Mạnh Tử đưa lên thành nguyên lý. Con người ở Khổng Tử đa dạng hơn nhiều. Mọi cơ hội dường như đều được mở ra. Một khi tiềm năng hư hỏng đã chực sẵn, mọi rối loạn xã hội và những chấn thương trong lòng người là chuyện khó tránh nổi. Ta biết rằng cùng với Luận ngữ có một cặp khái niệm đã hình thành, đó là quân tử và tiểu nhân. Đây là cặp phạm trù bị người đời đả phá kịch liệt, bởi cho là khi nhấn mạnh sự phân biệt đó, cụ Khổng đã mở đường cho giai cấp thống trị áp bức nhân dân. Nhưng có thể có cách hiểu khác - đây chỉ là những giả định để nhà nghiên cứu này hình dung về các đối tượng. Tiểu nhân là gì? Là cái dạng thức tự phát tự nhiên về con người mà ở trên vừa nói. Còn quân tử, đó là cái đích mà con người phải tới, phải phấn đấu để trở thành. Và như vậy trong khi hướng tới quân tử thì những con người tiểu nhân kia lại không xa lạ với chúng ta, muốn tự hiểu mình ta hãy chăm chú nhìn vào hình ảnh tiểu nhân mà cụ Khổng miêu tả. Đó là những kẻ liều lĩnh cuồng bạo lấy cớ nghèo đói để tự cho phép mình tha hồ làm bậy. Đó là những kẻ quá tự tin, không bao giờ nghĩ là mình có thể có lỗi, đứng trước việc lớn việc nhỏ, không bao giờ băn khoăn xem mình làm thế nào thì đúng, thế nào thì sai, mà chỉ nhắm mắt lao tới. Chẳng phải là những mẫu người phổ biến quanh ta đó sao? Trong tâm lý học hiện đại, Gustave le Bon (1841- 1931) nổi lên như một người biết gọi ra chân dung tinh thần của các đám đông: nặng về bản năng, dễ bị kích động và bị sai khiến. Về phần mình, Khổng Tử bảo: Quần cư chung nhật - ngôn bất cập nghĩa - hiếu hành tiểu tuệ - nan hĩ tai (tạm dịch: Túm tụm với nhau suốt ngày, không bàn về đạo lý, toàn tính toán theo lối khôn vặt, thực là khó dùng). Hoặc: Cuồng nhi bất trực - đồng nhi bất nguyện - không không nhi bất tín - ngô bất tri chi hĩ (tạm dịch: Kẻ cuồng vọng mà không ngay thẳng, dốt nát mà không trung hậu, có vẻ thực thà mà không thủ tín, ta chẳng biết hạng người đó ra sao). Những câu loại này nhiều lắm, cần hẳn một chuyên đề nghiên cứu. Lâu nay tôi vẫn tự nhủ hãy hiểu con người hôm nay ra sao đã, sau đó mới bàn cái đích phải hướng tới. Không dè cách nghĩ này đã sẵn trong Khổng Tử. Muốn nghiền ngẫm lại Luận ngữ là vì vậy. Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn | |
Muộn chiều Đại Lải
Đi tìm lại cái mình chưa có mình
Hỏi núi núi chỉ lặng thinh
Hỏi cây cây đứng vặn mình mà reo
Mơ hồ một tiếng chim kêu
Một làn sương rủ tím chiều hoàng hôn
Dấu xưa in lối sỏi mòn
Người sang đảo Ngọc thả hồn về đâu
Đại Lải 9 /2007
Late length Lai
Late early checkmate ngẩn ngơ
Go find the things you do not have their
Q mountains mountains just clam
Q tree stand of trees that ring
Indistinctive a peek
Once the dew ru purple sunset
Bookmarks ancient worn gravel in the entrance
Ngoc island people to drop more đâu
Dai Lai 9 months 2007
Trước tiên mình sẽ gặp được người mình yêu nhất, sau đó hiểu được cảm giác yêu. Chỉ có hiểu được cảm giác bị yêu mới có thể phát hiện ra người yêu mình nhất, khi đã trãi qua cảm giác yêu & bị yêu mới có thể biết được mình cần điều gì, và cũng sẽ tìm thấy người bạn đời thích hợp nhất trong cuộc đời còn lại. Thật đáng tiếc trong cuộc sống hiện tại cả 3 người này thường không cùng 1 người, người bạn yêu nhất không chọn bạn, ngưới yêu bạn nhất lại không phải là người bạn yêu nhất, và người bạn đời luôn luôn không phải là người bạn yêu nhất , cũng 0 phải là người yêu bạn nhất, chỉ là người xuất hiện vào lúc thích hợp nhất.
Bạn sẽ là người thứ mấy trong cuộc sống của tôi? Không ai muốn thay đổi tình yêu của mình, khi anh (cô) ta yêu bạn, đó là lúc anh (cô) ta thực sự yêu bạn. Nhưng khi anh (cô) ta không yêu bạn thì cũng thực sự là không yêu bạn, cũng như anh (cô) ta không thể giả vờ không yêu khi anh (cô)ta đang yêu bạn, cũng như anh (cô) ta không thể giả vờ yêu khi không yêu bạn. Khi một người không còn yêu mình nữa muốn rời xa mình, mình cần phải hỏi lại bản thân có còn yêu anh (cô)ta nữa 0, nếu bạn không còn yêu người ấy nữa tì xin đừng bao giờ vì lòng tự trọng mà không chịu rời xa người ấy. Nếu như bạn vẫn còn còn yêu người ấy, lẽ đương nhiên bạn sẽ hy vọng người ấy có được một cuộc sống hạnh phúc, vui vẻ, hy vọng người ấy được ở cùng người mình yêu đừng bao giờ ngăn cản, nếu như bạn ngăn cản người ấy có được hạnh phúc thực sự của mình nghĩa là bạn không còn yêu anh(cô) ta nữa, và nếu như bạn kh6ng còn yêu thì bạn lấy tư cách gì chỉ trách anh(cô) ta bạc tình.
Yêu không phải là chiếm hữu, bạn thích mặt trăng, không th6ẻ đem mặt trăng cất vào trong hộp , nhưng ánh sáng của mặt trăng lại có thể chiếu sáng vào tận phòng bạn. Cũng như bạn yêu một người , bạn vẫn có thể có được người ấy mà không cần chiếm hữu và khiến người yêu trở thành một hồi ức vĩnh hằng trong cuộc sống. Nếu bạn thực sự yêu một người, phải yêu con người thực của anh(cô) ta, yêu mặt tốt cũng yêu cả mặt xấu, yêu cái ưu điểm lẫn cả khuyết điểm, tuyệt đối không nên vì yêu anh(cô) ta mà hy vọng anh(cô) ta trở thành con người mình mong muốn, nếu anh ta không được như ý bạn thì mình không còn yêu anh(cô) ta nữa. Yêu một người nào đó thực sự không nói ra được nguyên nhân vì sao yêu, bạn chỉ biết rằng, bất cứ lúc nào, tâm trạng tốt hay xấu thì bạn cũng đều mong muốn người ấy ở bên cạnh bạn, không một yêu cầu.
Xa cách cũng là một thử nghiệm tình yêu, tình yêu chân chính sẽ không bao giờ trở thành tình yêu oán hận. Hai người yêu nhau, thích nhất là bắt người yêu mình phải thề , phải hứa, tại sao chúng ta lại bắt đối phương làm như vậy, tất cả cũng chỉ vì ta không tin đối phương........ Làm gì có chuyện biển cạn đá mòn, trời long đất lỡ, nếu có thì cũng không ai sống được đến ngày ấy.
Bạn đã tìm được người thứ mấy cho cuộc đời của bạn?
------------------------------------------*o*ooooooooooooooooo*o*---------------------------------------
Tien 01 siu tầm
-
Một bài báo nói về căn bệnh ung thư.
SAU NHIỀU NĂM CÔNG BỐ VỚI MỌI NGƯỜI RẰNG HÓA HỌC TRỊ LIỆU LÀ CÁCH DUY NHẤT
ĐỂ THỬ NGHIỆM VÀ LOẠI BỎ UNG THƯ, CUỐI CÙNG JOHNS HOPKINS CŨNG ĐÃ CÔNG BỐ
MỘT CÁCH KHÁC.
Cập nhật về căn bệnh ung thư từ Johns Hopkins:
1. Ai cũng có tế bào ung thư trong cơ thể. Những tế bào này không thể bịphát hiện trong những cuộc kiểm tra tiêu chuẩn, trừ khi chúng nhân rathành vài tỷ tế bào. Khi bác sĩ thông báo với bệnh nhân ung thư rằng saukhi trị liệu, cơ thể họ không sản sinh thêm tế bào ung thư nào khác, điềunày có nghĩa là cuộc kiểm tra không phát hiện ra các tế bàoung
thư dochúng chưa phát triển tới mức độ có thể nhận biết.
2. Tế bào ung thư xuất hiện từ 6 tới 10 lần trong cuộc đời con người.
3. Khi hệ thống miễn dịch của cơ thể mạnh, hệ thống này tiêu diệt các tế
bào ung thư đồng thời ngăn chặn chúng sinh sản và hình thành khối u.
4. Khi một người mắc bệnh ung thư có nghĩa là người đó suy dinh dưỡng đacấp... Điều này có thể do các nhân tố về di truyền, môi trường, thức ăn và
lối sống..
5. Để tránh suy dinh dưỡng đa cấp, thay đổi thói quen ăn uống và bổ sungthực phẩm sẽ giúp tăng cường khả năng miễn dịch.
6. Hóa học trị liệu bao gồm việc làm nhiễm độc các tế bào ung thư pháttriển nhanh, đồng thời cũng tiêu diệt các tế bào khỏe mạnh trong tủy xươngvà vùng dạ dày - ruột, và có thểgây tổn thương các cơ quan như gan, thận,tim,phổi...vv..
7. Các tia phóng xạ trong quá trình tiêu diệt tế bào ung thư có thể gâythương tổn tới các tế bào khỏe mạnh,cácmôtếbào và các cơ quan trong cơthể.
8. Trị liệu ban đầu bằng hóa học trị liệu và phóng xạ thường làm giảm kíchcỡ khối u... Song sử dụng các biệnpháp này lâu dài không tiêu diệt đượckhối u hoàn toàn.
9. Khi cơ thể nhiễm độc do hóa học trị liệu và tia phóng xạ, hệ thống miễndịch của cơ thể sẽ trở nên yếu ớt và bị tổn thương, do vậy cơ thể thườn không chỗng đỡ nổi với bệnh tật và các biến chứng.
10. Hóa học trị liệu và phóng xạ có thể khiến các tế bào ung thư biếnchứng và khó tiêu diệt hơn. Phẫu thuật có thể khiến các tế bào ung thư di căn tới vùng khác trên cơ thể..
11. Một cách hữu hiệu để đối phó với các tế bào ung thư là "bỏ đói" chúng,không cung cấp dưỡng chất khiến chúng có thể sản sinh.
TẾ BÀO UNG THƯ CẦN NHỮNG DƯỠNG CHẤT GÌ?
a. Đường là một trong những dưỡng chất cho tế bào ung thư. Cắt bỏ đường làcắt bỏ nguồn dưỡng chất quan trọng cho tế bào ung thư. Các sản phẩm thay thế đường như NutraSweet, Equal,Spoonful... làm từ Aspartame và không gâyhại. Sản phẩm thay thế từ thiên nhiên là mật ong Manuka và mật đường nhưngvới một lượng rất nhỏ. Muối bột cũng có chất hóa học tẩy trắng màu muối.
Lựa chọn tốt hơn là amino Bragg và muối biển.
b. Sữa khiến cơ thể tiết ra niêm dịch, đặc biệt là ở vùng dạ dày và ruột.Chất niêm dịch là dưỡng chất cho tế bào ungthư. Bằng cách cắt bỏ sữatrong khẩu phần và thay thế bằng sữa đậu nành không đường, tế bào ung thư sẽ bị "bỏ đói".
c. Tế bào ung thư sống sót trong môi trường axit. Khẩu phần ăn chứa nhiềuthịt cung cấp nhiều axit. Sẽ tốt hơn nhiều nếu bạn ăn cá và thịt gà thaycho thịt lợn và thịt bò. Thịt gia súc cũng chứa kháng sinh, hormon tăng
trưởng và ký sinh không tốt cho cơ thể, nhất là với bệnh nhân ung thư.
d. Khẩu phần ăn có 80% rau xanh và nước ép, ngũ cốc, hạt và chút trái cây sẽ giúp cơ thể sản sinh nhiều kiềm. Khoảng 20% có thể là thực phẩm nấuchín, bao gồm cả đậu. Nước ép rau chứa các enzyme sống, dễ dàng hấp thu và ngấm vào các tế bào trong vòng 15 phút, giúp sản sinh các tế bào khỏe mạnh. Để tạo ra các enzyme sống nhằm sản sinh ra các tế bào khỏe mạnh, hãy thử uống nước ép rau (có giá đỗ) và ăn rau sống 2 tới 3 lần/ ngày. Các enzyme sẽ bị tiêu diệt ở nhiệt độ 104 độ F (40 độ C)
e. Tránh các chất caffeine như cà phê, trà và sô cô la. Trà xanh chứa chấtchống ung thư và là một lựa chọn tốt. Hãy uống nước lọc hoặc nước tinhkhiết để tránh chất độc và kim loại nặng trong nước thường. Tránh uốngnước cất vì nước này chứa axit.
12. Protein trong thịt khó tiêu hóa và cầntớinhiềenzymetiêu hóa. Thịt không tiêu hóa nằm nguyên trong ruột, gây thối và tạo ra chất độc cho cơ thể.
13. Các tế bào ung thư được bao phủ bằng một lớp protein. Bằng cách hạn
chế thịt trong khẩu phần ăn, các enzyme sẽ hoạt độngdễdàng hơn trongviệc tấn công lớp protein bao phủ tế bào ung thư và giúp các tế bào hủydiệt tự nhiên của cơ thể tiêu diệt tế bào ung thư.
14. Một số các chất tăng cường hệ miễn dịch (IP6, Flor-ssence, Essiac,anti-oxidants, vitamins, khoáng chất,EFAs....) giúp các tế bào hủy diệttự nhiên tiêu diệt tế bào ung thư. Một số chất khác như vitamin E tạo ra
cơ chế tiêu diệt tế bào, một cách thông thường của cơ thể nhằm đào thải các tế bào gây hại hoặc không cần thiết.
15. Ung thư là căn bệnh của thể xác và tinh thần. Một tinh thần lạc quan và sảng khoái sẽ giúp các bệnh nhân ung thư giành giật được sự sống. Giận dữ, căm thù và cay đắng khiến cơ thể bị căng thẳng và tạo ra axit. Hãy học
cách sống vị tha và đầy yêu thương. Học cách thư giãn và hưởng thụ cuộc sống.
16. Các tế bào ung thư sẽ không tồn tại được trong môi trường đầy ôxi. Tậpthể dục đều đặn, hít thở sâu sẽ giúp các tế bào được nạp đầy đủ ôxi. Liệu pháp ôxi cũng là cách tiêu diệt các tế bào ung thư.
(HÃY GỬI BÀI BÁO TỚI NHỮNG NGƯỜI BẠN QUAN TÂM}
Do huyền Danh siu tầm
Đây là hai khái niệm đối lập nhau.
Khi nào thì có dấu hiệu của sự tự ti ? Tự ti nó có tác hại hay ích lợi gì ?
Tự ti thường do chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi gia đình_xã hội xung quanh người đó lớn lên.
Tác động của nó thế hiện ở chổ:
Người mắc bệnh tự ti thường hay có cuộc sống thu mình. Hay tự trách mình, xấu hổ. Ở một góc độ nào đó thì tự ti có tác dụng tự răn mình, nhưng lợi ích của nó không đáng kể.
Tự tin thì trái ngược với tự ti nên ta dễ dàng để suy ra nó là thế nào.
Khắc phục tính tự ti:
Tự tin được hiểu thế nào cho đúng, liệu ta có thể tự tin khi ta không làm được một việc gì đó ? Đây là câu hỏi lớn cần được giải đáp.
Để trả lời câu hỏi này ta phải cần phải phân biệt giữa tính tự ti và năng lực làm việc, đó là hai khái niệm khác nhau. Do giữa tự ti là thái độ là tính cách khác với năng lực làm việc là kỹ năng, kỹ xảo hay tài năng. Một người có sự tự tin không có nghĩa là làm được việc, bởi vì anh ta không quen, không biết, không đúng chuyên môn. Vì thế không làm được việc không có nghĩa là ta phải tự ti, đó chẳng qua là chuyên môn chưa được đào tạo, hay do chưa quen công việc. Ngược lại, người làm được việc không có nghĩa họ là người tự tin mọi lúc mọi khi, vì họ có thể chỉ tự tin với công việc mà họ đã quen đã biết, còn việc khác thì chưa biết được.
Như vậy, tính cách là gốc của mọi vấn đề. Cần có tính tự tin nhưng không có nghĩa là việc gì cũng xông vào làm bất chấp người khác. Không khéo lại trở thành: "Nhiệt tình, năng động + Ngu dốt = Phá hoại "
Tại sao phải giáo dục tính tự tin ?
Nếu có sự tự tin thì bạn sẻ đủ bản lĩnh, ý chí để đi đến thành công. Bạn tự ti thì bạn chẳng có gì hết ngoài việc an phận thủ thường, lắm lúc hạ thấp mình.
Cũng không nên hiểu sai là tự tin đồng nghĩa với kiêu ngạo, tự mãn.Việc rút lui không phải là bạn tự ti mà là bạn không có đủ điều kiện hiện tại để làm, không thuộc vào nhiệm vụ, chuyên môn, cái này không phụ thuộc vào nhân cách của bạn.
Tóm lại, con người phải có tính tự tin và cũng cần phải hiểu đúng sự tự tin là như thế nào.
Tiến01 siu tầm

Mùa thu chín
Con sinh ra giữa mùa thu chín
Hương ổi thơm theo chân mẹ chợ quê
Lúa con gái đến thì xanh mướt
Phù Sa chín đỏ no nê
Có ngôi sao thức trời khuya
Nhớ ai không ngủ
Con lớn lên
Cùng tre ấm bụi
Vươn theo ánh nắng trời
Con đi núi rộng sông dài
Ánh sao sáng mãi
Mùa thu chín ươm từ vườn mẹ
Cơn sốt rừng chuyền hơi ấm sang nhau
Mùa thu này ngọt giọng hát em
Đường mở rạng ngời phố mới
Trời cao vằng vặc trăng sao
Ngày D/X/h
Tiếng chim xanh xin giới thiệu chuyện ngắn của Lương văn Chi
CÚN CON
Bé mở mắt rồi dần tỉnh hẳn. Nó cựa mình, lật người nằm ngửa hẳn ra. Cái tai bị áp xuống chiếu được tự do vểnh lên nghe ngóng. Xung quanh vẫn yên lặng, cái im lặng thật sự của đêm sâu mà chỉ một chú cá nhép nào đó đớp "tóp" một cái dưới chân bèo, cũng vọng tới cái giường Bé đang nằm, trong cái vuông nhà trọ mà cả nhà Bé đang thuê để ở.
Vậy là thế nào nhỉ? Bé tự hỏi, hay là Bé mơ? Không, vừa rồi Bé còn nghe rõ tiếng chú Cún con í oẳng ngoài sân kia mà. Chính tiếng Cún đánh thức Bé dậy bởi sau một hồi í oẳng, Cún tru lên một thôi dài như ai oán, như đánh động cho những người trong nhà biết nỗi sợ hãi và cô đơn của nó.
Bé mở to mắt nhìn hẳn ra ngoài giường. Cái chấm nhỏ như đầu que diêm, xanh lét như mắt phù thuỷ của đèn báo ổ cắm điện trên tường, chỉ làm cho đồ vật trong nhà thêm chập chờn, quái dị. Góc tường, đối diện với cái giường mẹ con Bé nằm là xích lô của bố. Hai cái sảo úp lên đôi quang cùng cái đòn gánh mà mẹ Bé ngày ngày gánh rau bán dạo khắp phố để trong thùng xe. Tám cái nan quang cùng cái đòn gánh để phứa lên nhau, loằng ngoằng như đống củi cành mà ngày trước, ở quê, nhà Bé chưa phải di dời để làm khu công nghiệp, mẹ Bé thường dọn vườn gom lại. Dưới nền nhà, bên cạnh bánh xe xích lô, là nửa mảnh giát giường. Trên đó, bố Bé vẫn ngủ say, tiếng ngáy váng nhà. Tiếng ngáy của bố, lúc lúc tắc nghẹn, tựa như cái nút bấc đặt hờ trên cổ chai rượu, liên tục nảy lên, phát ra những tiếng khờ... khậc... khậc khê nồng.
Bé biết bố mệt. Hôm nào chả thế, tiếng ngáy của bố làm cả nhà khó ngủ. Từ ngày xích lô bị cấm không cho vào những đường phố đẹp, cấm chở hàng vào những giờ cao điểm, bố đi làm muộn hơn, đạp những cuốc xe vòng vèo hơn, xa hơn. Mỗi tối, về nhà, khi treo cái áo công nhân bảo hộ lên cái đinh ở tường, bố ngồi thẳng vào mâm cơm. Bố tựa lưng vào tường, tay nâng cốc, tợp một hơi cạn sạch cốc rượu, rồi với tay nhặt mấy hột lạc hoặc gắp tí rau xào. Mắt bố hằn đỏ, vằn những tia máu. Dưới ánh đèn vàng vàng, mặt bố bóng lên, hai gò má sần sùi nổi u nổi cục. Bố cứ ngồi như thế rất lâu, hai hàng lông mày rậm sụp xuống mu mắt đầy u tối. Thỉnh thoảng Bố lại thở dài, lẩm bẩm một mình:
- Mẹ kiếp! Kiểu này rồi đói! Rau úa cũng không có mà ăn!
Bé không biết cái gì đã làm bố lo sợ, buồn chán thế. Chỉ biết thời gian gần đây, mặt bố quắt lại và đen hơn. Bố hay nổi nóng vô cớ, hai anh em Bé bị ăn đòn nhiều hơn và không biết mình đã mắc lỗi gì. Mãi đến khi, cái chai nhựa đựng rượu đã dốc ngược trên miệng cốc, bố liệng cái chai quăng lông lốc vào góc nhà, lăn kềnh ra ngủ. Khi bố ngủ thì sợ lắm, cả nhà đi lại phải rón rén, có nói gì với nhau cũng thì thào thôi, cả mẹ cũng vậy.
Bé nhớ lại mấy hôm trước, lúc bố đang ngủ, anh Vĩnh ngồi góc nhà nắn bóp mấy chỗ dúm dó của con búp bê nhựa, lúc đi làm bố nhặt từ đống rác bên đường. Bé hứng chí, nhào tới, giật con búp bê khỏi tay anh. Vĩnh chồm lên, giữ chặt con búp bê, hét toáng:
- Để tao chữa đã!
Bỗng nhiên Vĩnh nín bặt, đưa vội tay lên bịt mồm, mắt lấm lét nhìn vào chỗ bố đang nằm. Bố vùng dậy, hai mắt đục ngầu, bố gầm lên:
- Bắt nạt em hả!
Bố bổ chẩng ra ngoài sân, rút "soạt" một thanh củi tròn lẳn bằng ngón tay cái của bố, trong đống củi cành mà mẹ gom nhặt được khi đi bán rau. Bé nhìn Vĩnh đang rúm lại góc nhà, mặt tái xanh, tái xám. Thân thể rũ rượi như cái bọc giẻ rách. Bố xông thẳng đến Vĩnh trong lúc anh chắp hai tay trước ngực, nước mắt giàn giụa, mồm run lên lập bập: "Con lậy bố... bố tha con! Con biết... lỗi rồi!..."
Vút, cái roi tròn lẳn xé không khí, vung lên cùng tiếng thét khản đặc:
- Thích trêu nhau này! Trêu nhau này...!
Vút, vút! Cành củi khô trong tay bố quật xuống vô tội vạ lên lưng, vào vai, vào bắp chân Vĩnh. Hai bàn tay bé xíu của Vĩnh rối rít xoa lia xoa lịa vào những chỗ mà ngọn roi vừa bứt ra. Cuối cùng Vĩnh ngã xoài ra nền nhà, hai chân giãy đành đạch. Nước mắt, nước mũi, cùng rớt dãi Vĩnh thi nhau vãi xuống. Môi miệng Vĩnh ríu vào nhau, thều thào van xin bố trong tiếng khóc, tiếng nấc dồn dập:
- Con lạy bố...! Con đau... con đau... lắm rồi! Con không... không bao giờ thế nữa!
Từ ngoài sân, mẹ hớt hải xông vào, tóc tung tơi tả. Giật cái roi trong tay bố, mẹ hét lên:
- Ông không xót con sao? Nó có tội gì?
Bố gào lên, hổn hển:
- Vậy thì ai xót tôi! Tôi có tội gì!
Tiếng "ai", tiếng "tội" như nứt toác trong cổ họng bố, phát ra đầy uất ức. Hục hặc, bố giật cái áo trên tường, lộn túi rỗng, chiềng vào mặt mẹ.
- Không còn một nghìn...! - Bố vứt phạch cái áo xuống đất - Mệt! Nhầm đường cấm, bị làm luật! May mà không bị tịch thu xích-lô!
Bố ngồi phịch xuống miếng giát giường, mặt méo xệch, rên rỉ:
- Thân tôi không bằng con chó!
Mẹ quẳng cái roi ra sân, nhìn bố cằn nhằn:
- Chẳng lẽ ông đem cái khốn nạn ngoài đời trút lên đầu con cái hay sao!
Đuối lý, bố nằm vật ra. Chỉ một lát, tiếng khờ... khậc... khậc của bố đã váng nhà.
Vĩnh nín khóc, co hai cái chân đau, lổm ngổm bò lết ra sân, ngồi dúi vào bờ râm bụt, thút thít một mình. Bé lại gần xoa hai tay mình lên lần áo mỏng, nắn bóp những lằn thịt hằn lên hình cái roi và nóng rát trên lưng anh, trong lúc Vĩnh vừa khóc, vừa lắc vai, dằn dỗi hất tay Bé xuống.
Nghĩ đến đấy, sợ quá, Bé nhằm nghiền mắt lại. Trước mắt Bé, cái roi vẫn tới tấp như múa. Góc nhà, tiếng ngáy khờ... khậc... khậc... của bố vẫn vang đều.
Bỗng ở ngoài, tiếng Cún con rít lên ăng ẳng. Chân Cún cào soàn soạt vào cánh cửa. Cún chõ mõm vào nhà sủa hoắng lên. Bé hoảng hốt ngỏm dậy. Chết, sủa ghê thế, bố mà dậy bây giờ... thì...
*
* *
Mớ rau muống héo nát nằm trong cái sảo vừa được đặt xuống sàn, một tay tháo cái xô nhựa buộc đầu đòn gánh thường để chứa nước tưới cho rau đỡ héo trong lúc bán dạo, mẹ Bé lớn tiếng gọi:
- Vĩnh đâu, Bé đâu! Quà của các con này!
Đang hai tay giữ con búp bê cho Vĩnh phồng mang, trợn mắt thổi hơi vào cái lỗ trên đỉnh đầu, để nó căng trở lại những chỗ móp méo do bị quăng quật từ lúc bố nhặt được ở đống rác. Nghe tiếng mẹ, cả hai quẳng con búp bê xuống đất, nhào vội ra sân.
Nhìn hai con rón rén bóc lớp vỏ thâm đen vì chín nẫu của hai quả chuối, món quà thường nhật sau mỗi buổi chợ, mẹ Bé nghiêng đầu, ánh mắt lấp lánh.
- Còn quà nữa...!
Mẹ chỉ tay vào cái xô nhựa. Bé cúi xuống, suýt nhẩy cẫng lên và đánh rớt quả chuối ăn dở vì mừng rỡ. Trong lòng xô, một chú Cún con ngồi chồm chỗm. Cái mũi đen nhẫy hếch lên, hai cánh mũi bé tí động đậy như đánh hơi và đôi mắt đen như hai cúc áo đong đưa, còn cái đuôi nhỏ như cây bút bi, cong tớn, ngoáy lia ngoáy lịa.
Mẹ bế Cún khỏi lòng xô, Bé ngồi sụp xuống, reo ầm lên:
- Ôi, đẹp quá! Mẹ ơi! Thích quá!
Bé đưa tay vuốt nhẹ lên bộ lông vàng mịn của Cún.
- Các con chơi với Cún - mẹ dặn - đừng để nó ra ao. Chăm cho nó ăn, chóng lớn còn trông nhà! Dạo này trộm cắp với nghiện hút nhiều như rươi - mẹ thở dài, nhặt mớ rau muống trong sảo - Bố chúng mày cũng sắp về rồi!
Được tự do Cún chạy nhắng lên, bạ cái gì dưới sân cũng ghé mõm khịt khịt. Thỉnh thoảng Cún ngồi thừ ra, thè cái lưỡi hồng hồng bé xíu như cái thìa liếm mép rồi há ngoác miệng ngáp một cái rõ dài.
Bố về. Bé chạy ra đón bố, Cún bắng nhắng theo sau. Nhìn Cún lăng xăng chạy đón mình, bố trừng mắt:
- Lại rước của nợ về đấy hả? Cơm gạo đâu mà nuôi!
Bé cụt hứng, mặt ỉu sìu. Bé biết bố không thích Cún. Còn Cún, hết chạy đón đằng trước lại chạy lùi về phía sau, rít lên mừng rỡ. Vướng chân, bố đá "phốc" một cái. Cún "oắng" lên một tiếng, lăn lông lốc ra ngoài, nằm im như chết, mắt mở to nhìn bố, cái đuôi bé xíu vẫn văng qua, văng lại.
Bố lẳng lặng vào nhà, mở cốp xích lô, vứt "xoảng", cái xích vẫn dùng để khoá bánh xe ra sân, rồi túm gáy Cún, xích nghiến chú vào cây cột tre ở cửa bếp. Cả buổi chiều, Cún quanh quẩn bên cây cột ấy, Bé cũng không dám lại chơi với Cún nữa.
*
* *
Tiếng oăng oẳng ở ngoài sân từng lúc càng dồn dập, cồn cào. Sau một thôi dài, Cún lại rít lên ư ứ. Bé hoảng hồn. Kêu mãi thế, bố mà dậy bây giờ... Bé đưa mắt nhìn ánh sáng xanh lè như mắt phù thuỷ của đèn báo ổ cắm điện trên tường. Len lén, Bé ngồi dậy, tụt xuống giường. Dưới đất, trên mảnh giát giường bên cái xích lô, bố vẫn ngủ say, tiếng ngáy của bố vẫn thỉnh thoảng nấc lên.
Bé đẩy cửa bước ra sân. Ánh đèn cao áp ở phố xa, yếu ớt hắt vào cái xóm trọ nhà Bé nhờ nhờ như khói bếp. Cái ôm củi bằng cành cây mà mẹ gom nhặt lại mỗi khi công nhân công viên đi cắt tỉa trong thành phố bỏ lại, trông lùm lùm như cái mả ở bên bờ dâm bụt.
Thấy người, Cún mừng quýnh, rít lên. Bé giơ tay vuốt lưng Cún, bộ lông đã âm ẩm hơi sương. Cún ngoác miệng, thè cái lưỡi khô khốc liếm tay Bé. Thôi chết, Bé giật mình. Tội nghiệp Cún, vừa mới xa mẹ, lại bị bỏ đói, bỏ khát từ chiều đến giờ còn gì?
Lẻn vội vào trong bếp, Bé khẽ khàng mở vung nồi cơm, cho tay vào khua khoắng. Nồi cơm nhẵn thín! Một thoáng lưỡng lự, Bé múc một bát nước, đặt trước mặt Cún: "Cún ơi, chịu khó nhé! Bé chỉ làm được thế này thôi!".
Bé trở lại giường trong tiếng "tóp, tóp" đớp nước của Cún con ngoài sân. Trong cái im lặng của đêm sâu, Bé chìm dần vào giấc ngủ nặng nề, bứt rứt.
*
* *
Tiếng chó sủa lại đột ngột dội lên. Tiếng sủa ngày một dồn dập, khẩn thiết. Tiếng chân Cún cào sồn sột vào cây cột tre luồng. Rồi tiếng Cún nhẩy, Cún lồng, Cún giật dây xích. Bé hoảng hốt bừng mắt. Dưới đất, bố cọt kẹt giở mình, giọng bố ồm oàm:
- Khi không lại rước cái loa công cộng vào nhà! Mất cả ngủ...!
Bố trở dậy. Có tiếng chân khua tìm dép trên nền nhà.
Bé hé mắt nhìn ra. Cái bóng đen cao lớn của bố khủng khiểng đi ra sân. Tiếng í oẳng vui mừng của Cún khi thấy người cùng với tiếng "soạt" của cành cây được rút ra từ trong đống củi. Bé rùng mình: "Cún ơi! Chú Cún con tội nghiệp! Khổ thân Cún quá!"
Tiếng rít vui mừng cuống quýt của Cún con xen lẫn tiếng quát đã sít sịt của bố:
- Kêu này!
Bé nhắm nghiền mắt lại.
"Vút"... "Bịch"! Cành củi quật chí mạng vào Cún. Một tiếng "Oắng", kéo dài rồi im bặt. Đêm đen yên lặng, nghe rõ cả tiếng cá đớp "tóp, tóp", dưới chân bèo và tiếng côn trùng rên rỉ, nỉ non.
Bố lẹp kẹp lê dép vào nhà rồi nằm phịch xuống bộ giát giường. Chỉ lát sau, tiếng ngáy của bố đã khờ... khậc... khậc... ầm nhà.
Sáng hôm sau, Bé dậy thật sớm, sớm hơn mọi ngày nhiều lắm. Bé chạy ngay xuống bếp thăm Cún. Nhưng ôi thôi! Cún nằm sóng xoài, hai mắt nhắm nghiền trên đống gio lò ướt đẫm sương đêm, bộ lông vàng mượt cũng bết sương đêm. Từ khoé mép đen đen, một dòng máu tím thâm đọng lại, nhểu vài giọt tím đen xuống lớp gio lò. Cún con chết ngay tức khắc bằng một vụt của bố trong đêm. Cún chết bởi Cún kêu nhiều. Còn vì sao Cún kêu nhiều chắc chỉ mình Bé biết.
Bé oà lên khóc, nức nở. Những giọt nước mắt xót thương lăn dài trên má. Anh Vĩnh cũng dậy từ lúc nào, đứng sau lưng Bé cũng oà khóc theo.
Từ trong nhà, bố vọt ra sân, hai tay dụi hai con mắt đỏ ngầu:
- Có thế mà cũng khóc! - Bố quát tướng.
Cả hai anh em vội nín bặt. Bố tháo xích, cầm tai Cún xách lên, ném tõm xuống ao nước trước nhà. Lớp bèo tấm xao động dồn nhau, dãn ra rồi lập tức khép lại. Cún đã chìm nghỉm.
*
* *
Mấy ngày sau, xác Cún nổi phập phều trên mặt nước, to hơn nhiều lúc còn sống. Cái bụng rỗng của Cún phồng căng như quả bóng. Mấy đứa trẻ ở dãy nhà trọ bên kia ao, lấy Cún làm mục tiêu, hò nhau ném xuống. Đất, đá tùm tũm xung quanh xác Cún. "Bục" một hòn trúng ngay vào cái bụng căng kềnh ấy! Một đám lông vàng trượt theo hòn đất vừa ném. Mảng bụng trắng hớ của Cún nổi bập bềnh giữa đám bèo tấm xanh xanh.
- Hoan hô! Hoan hô!
Tiếng hò reo, cổ vũ vang ầm bên kia ao, tán thưởng "viên đạn" đầu tiên đã bắn trúng mục tiêu. Đất đá lại thi nhau tùm tũm xuống ao. Mặt nước vỡ ra, mùi hôi thối lưu cữu lâu năm dưới đáy bốc lên, thối hoăng, nồng nặc.
- Khốn kiếp! Thôi ngay!
Từ trong nhà, bố xộc ra, đứng chặn trước mặt Vĩnh và Bé, hai tay chống mạng sườn, hùng hổ quát đến lạc giọng.
Tiếng quát như một mũi tên phóng thẳng vào đám trẻ bên kia, chúng ngơ ngác dừng lại. Nhưng lập tức, bằng kinh nghiệm tinh ma và sự lì lợm của trẻ con xóm liều, chúng hiểu: cái ông người lớn bên kia chẳng có vị gì! Chúng cúi xuống, nhặt đất đá, tiếp tục trò chơi thú vị của mình. Mặt ao đầy bèo tấm lại rung lên, xác cún lại dập dềnh, trồi trụt giữa những tiếng "bõm, bõm", nước bẩn bắn lên tung toé, vung đầy cả mảnh sân con nhà Bé.
Mắt long sòng sọc, bố gạt Vĩnh và Bé sang một bên nhảy đến đống củi. Rút "soạt" một cành to và dài nhất, bố vung lên trong lúc Bé hoảng hốt thụt lùi, mở to mắt nhìn anh Vĩnh đang tóp người lại, mắt đờ ra như người thất kinh lạc, toàn thân run rẩy không hiểu mình lại mắc lỗi gì.
Tay nhăm nhăm cành củi, nhảy một bước đến mép nước, bố xồng xộc lội thẳng xuống ao, mặc cho mặt nước đen ngòm òng ọc sủi bọt.
Đưa cành củi về phía trước, bố gạt dần xác Cún vào bờ, giữa lúc bọn trẻ bên kia cuống quýt trước nguy cơ mất mục tiêu. Đất đá tới tấp phi xuống mặt ao.
- Ối!
Tiếng kêu thất thanh của bố giẫy lên cùng lúc cành củi rơi "bẹt" xuống mặt nước, hai tay bố ôm mặt. Bố ngã ngửa đánh "Oạp" xuống mặt ao đen ngòm, hai bàn chân trắng hếu chòi chòi đạp trên mặt nước.
Một "viên đạn" quá đà và chệch mục tiêu đã "bắn" trúng mặt bố. Bé và Vĩnh ngây người rồi cùng lúc hiểu sự nguy hiểm đang xảy ra với bố, cả hai đồng thanh hét lên, thất thần:
- Bố ơi!
Ý thức được sự yếu ớt của mình, Vĩnh nhào ra ngõ, hai tay chụm lên miệng làm loa, kêu cứu.
Bọn trẻ bên ao ù té bỏ chạy, đứa nào đứa nấy tọt vào trong những vuông nhà trọ của mình, sập cửa. Thỉnh thoảng một vài cái đầu bù xù thập thò, ló ra, nghiêng ngó.
Mấy chú bác trong xóm sấn tới bờ ao. Bé, nước mắt đầy mặt, nhìn bố yếu ớt quẫy đạp và chìm dần. Mái tóc bố xoà trên mặt nước, dập dềnh, trồi trụt cùng với xác Cún con. Vẳng bên tai Bé câu rên rỉ của bố hôm nào: "Thân tôi như con chó!" Mếu máo, Bé đưa tay gạt nước mắt, ngồi sụp xuống dưới chân những người hàng xóm như quỳ lạy, khẩn cầu:
- Cứu vớt bố cháu với, các ông các bà ơi!
Lời van xin ảo não, cái mặt úp sấp, cái lưng cong mọp xuống đất của Bé giống như đứa trẻ dắt bố đi ăn mày, tay cầm cái rá nhựa, chiềng vào mặt những người trong phòng đợi, ở bến ô tô khách, hôm Bé theo mẹ đến giúp bố bốc hàng./.
Trại Chuối, tháng 4/2009
Lương Văn Chi
Sang sông
Dương Xuân Huynh
Em sang bên này
Mới biết sông không bờ bến
Lạnh lẽo cô thường
Em giang tay bờ mây
Bỏ lại sau lưng bao nhiêu nước
Những mắt lưới lấp loá vẩy cá
Và tiếng khóc chiếc áo bồng vai
Mấy lần nhắn tin anh có nhận được không ?
Trông chờ ảo vọng
Ngày bên anh bông cỏ may run run
Dẫn nhau đi khói hương
Ngày tháng mỏi mòn
Rồi lũ trẻ
Vốn liếng em trông ở ngày mai
Ngày mai rộng dài sông không bờ bến
Ngày D/X /H
To river
Dương Xuân Huynh
Children to this party
The new river termless
She often chilly
She hands the giang
Left behind as many countries
The speaker mesh lấp fin
And cry a cotton shirt
Several times with his message not received?
Expect Fantasy Outlook
On the cotton grass, he may falter
Date mỏi wear
Then flood children
Capital threw them look at tomorrow
Tomorrow wide long river termless
D /X /H
Bến chiều
Dương Xuân Huynh
Bến chiều nghiêng ngả khúc sông
Thuyền em gối sóng mà không chòng chành
Đầy vơi con nước cuối ghềnh
Ngày đi cứ ngỡ là mình trong mơ
Bến chiều năm tháng nắng mưa
Dấu chân bao lớp người qua sông dài
Thương bên lở nhớ bên bồi
Đêm về hứng cả vòm trời đầy sao
Thuyền thì thấp sóng thì cao
Gạn dòng sông đục hoà vào biển trong
Bến chiều ai đợi ai mong
Có nghe con sóng sang sông vỗ bờ
DXH
Ben pm
Dương Xuân Huynh
Ben pitch ngả khúc River
Boats they wave pillow without primary anti -
Full with water last ghenh
On ngỡ migrants in their dreams
Ben the years to buy
Footprint of the people over long
Trade the perforation the compensation
Night of the ether hứng full star
Boat is a low wave is high
Near Duc Hoa River to the sea in
Ben waiting for the one who expected
Have listened to the waves breaking shore
Date / D / X / H
Cõi riêng
Dương Xuân Huynh
Chăn trâu lưng trời diều lá
Cánh chuồn ớt dong chơi nắng hạ
Ve sôi cát bỏng đường hè
Cõi riêng sước bụi gai tre
Thơm mùa ổi
Có cơn mưa nông nổi
ướt vành trăng lưỡi liềm
Cõi riêng
Rét giá mạ chiêm say trầu quế
Gió ru hàng bia đá
Run run bóng mẹ nghiêng đồng
Cõi riêng mải miết dòng sông
Xanh biếc chờ mong đôi bờ nước
Ngày / D/X/H
Cõi own
Dương xuân Huynh
Back herd trời kites leaves
Line wings chuon peppers sunblind lower
boiling sand burns on summer
Cõi own suoc dust gai tre
Perfume season ơi
Have children in rural rain
wet vành crescent
Cõi own
Falter in parent co-prone
Cõi own rapt river
Green biec expected wait waterside
Date / D / X / H
Tìm quê
Dương Xuân Huynh
Lá rung gió rụng xuống đường
Cây đa bến nước quê hương nơi nào
Ngỡ mình trong giấc chiêm bao
Mắt xanh môi đỏ lạc vào đồng quê
Trâu sang đồng lạ cày thuê
Đâu xanh bờ cỏ trưa hè mang cơm
Tường vây thế dậu tre nôm
Hồn quê rong ruổi phố phường phồn hoa
Ruộng cày gả bán người xa
Nét xưa trôi dạt biết là về đâu
Ngày/ D/X/H
Search country
Dương Xuân Huynh
wind shaking the leaves down the road
Ice water wharves homeland where
Ngo in giấc dream
Blue eyes at the new Country
Buffalo contract leaves to rent
Where green grass shore lunch of rice, summer wear
Walls embrace the bamboo conduct Dau
Complete his half rong traditional town flowers
field sales people away from chicken
Net floating past especially of
Date / D / X / H
Ngày hội Điện Biên
Dương Xuân Huynh
Tay trong tay
Men lên vít cong cần rươụ
Áo chấn thủ bên áo chàm thổ cẩm
Điệu xoè inh noọng đắm say
.
Cả nước về đây
Nhớ người đi vì nghĩa lớn
Xưa Mường Thanh Hồng Cúm
Quân reo sấm dậy đìa cầu
Hầm Đờ-cát xác thù hoen rỉ
Kiêu hãnh bước chân người du khách
Vọng tiếng hò dô
Cảm tử quân chèn bánh pháo
Hoa Ban trắng bùn non cùng máu
Kết hoa hồng nở thắm Điên Biên
Đây tượng đồng bia đá
Khắc ghi công hồn sông núi
Tháng năm Điện Biên tưng bừng ngày hội
D X H
Sau mùa
Nguyễn Hữu Kiên
Tờ lịch mỏng cánh phù dung nở rụng từng ngày
Người đàn bà ngực lép đi về phía mặt trời buổi sớm
Cánh đồng trống không và thảnh thơi sau cuộc trở dạ mùa màng
Từng cậng thuốc lào xếp hàng tụng niệm đồng quê một nắng hai sương
Cho cay đắng ngọt ngào thành nàn khói vắt vai chiều thoáng đãng
Đất hiền đẫm mìng trong nước
Bờ bậm bạp ôm ruộng vườn thân thiết
Trời biết mình bỏng rát nên thả xuống mùa thu dịu dàng
Chẳng để lại gì trên đồng
Những chiến tích của người lính chân đất theo gió lãng quên
Lấm tấm bông cỏ vàng trang điểm màu sương chiều muộn
Mảnh liềm trăng cài lên trời từ lúc nào
N H K
Đêm Nô en
Đoàn thi Luật
Khi mẹ sinh ra em
Đã có chúa trên trời
Đêm Nô en lung linh muôn ánh điện
Chúnh mình tìm nhau trong dòng người vô tận
Trước Thánh đường mọi tội lỗi tiêu tan
Em bên giáo anh bên lương
Vườn cấm địa đàng chẳng còn ngăn cách
Em đi theo anh chẳng biết thiên đường hay địa ngục
Chỉ biết rằng ta đã có nhau
Em trao anh khát cháy nụ hôn đầu
Chúa sáng láng soi lòng em Thánh thiện
Đêm Nô en muôn vì sao ẩn hiện
Và bao người đang thổn thức tìm nhau
ĐTL
Ru chiều
Trần nguyên Phúc
Chiều ơi để ta ru chiều
Cho vàng cái nắng cô liêu cuối vườn
Có em thì ta cũng buồn
Không em trắng cả mưa nguồn đấy thôi
Tương tư là cái nợ đời
Không em ta nợ đến mười nhân gian
Giận hờn vỗ nhịp cung đàn
Gửi heo may đến chan chan nắng đồi
Một vầng khao khát tinh khôi
Run tay với chạm tím chồi phù dung
Trời bầy chi những dòng sông
Gọi nghe mà đắm không cùng thời gian
Ở đâu tím ngọn lau ngàn
Bạc chiều ta rụng trắng bàn chân đêm
Dịu dàng là ánh mắt em
Bão giông trong cái dịu dàng thì ta
1/5/1999
Đi chợ vùng biên
Si Ma Cai mù sương
Choé rượu Bắc Hà chênh vênh sườn dốc
Bát thắng cố thả hơi cay hừng hực
Em phả vào tôi sực nức váy váy lanh mèo
Heo hút bóng ai về tận bản chiều
Dốc đá bước ngựa thồ đay đả
Chẳng biết đá hay người say nghiêng ngả
Chợt thấy hoàng hôn nhoè đaý rừng
Con gái Mông bắp chân chẳng thể thon
Em leo dốc ngón chân xoè lan quạt
Vạt trước lau mồ hôi,Vạt sau nâng bầu ngực
Bình thản biên cương đối trọng trước người
Trái mận Tam Hoa tím ngọt bờ môi
Câu li ngủ quên sườn dốc
Điệu khèn lá ủ vàng trái mắc- coọc
Gió lơ ngơ rừng Ta lơ ngơ em
Thật bất ngờ giữa phiên chợ vùng biên
Gốc phượng ai trồng màu hoa cứ đỏ
Cầm tay em ngỡ chiều châu thổ
Bát rượu đầy xin uống cạn em
TNP
Hát về sông Văn
Cao Xuân Dương
Tôi lớn lên rồi đi
Chưa kịp hát về sông Văn quê mẹ
Ngày trở lại đã bao mới mẻ
Đất quê trước sóng đã đổi thay
Đường nhựa dọc ngang thôn xóm nhà xây
San sát ăng ten tiếng loa rộn rã
Bãi hoang xưa thành vùng tôm cá
Quê hương đổi mới đi lên
Cơn sóng nào dìm tàu giặc đáy sông
Đến bây giờ còn âm vang chiến tích
Sông xưa từng chở đoàn du kích
Vượt rào gai tiêu diệt đồn thù
Hạt sa nào nuôi lúa khoai
Vun đất mẹ xanh màu mỡ
Phà sang dạt dào sóng vỗ
Nối niềm vui thương nhớ bắc nhịp cầu
Chuyện tình Bến Hàn
Đào quang Khải
Một chuyện tình rơi xuống dòng sông
Thuyền mỏng manh không vớt nổi
Sóng vô tình xô đẩy mãi
Vào thời gian xa xăm
Nhịp gọi không lời chìm dưới hồi âm
Kết lên cây cay đắng
Khói quyện thơm vào mơ mộng
Sợi tơ lòng còn vương
Anh đưa em về quê ngoại lửa hương
Gửi nhịp cầu đôi bờ thương nhớ
Vĩnh Bảo -Đất Tiên -không cách trở
Bến Hàn ơi ! vọng một chuyện tình
Đ Q K
Tìm con cá lội
Trần nguyên Phúc
Lăng tìm mong tới cuối sông
Sững sờ cuối đấy mà không tận cùng
Hút tầm sóng cứ mênh mông
Đò đâu đến được tận cùng bến mơ
Sông Tương một dải nông sở
Trăm năm sốc áo đôi bờ trông nhau
Vạn chài tường tỏ nông sâu
Mà con cá mất tiếc đau cả chiều
Thuyền về chẳng đậu bến yêu
Buồm đi sải cánh mây chiều lang thang
Tưởng rằng cá gé bến làng
Xăm xăm tôi lại bẽ bàng với tôi
Lật thuyền xảm ánh chiều vơi
Căng buồm trăng bạc trông vời bóng xưa
Hoạ bao giờ ....có bao giờ
Sông Tương có đợi có chờ người sang
TNP
Tôi sinh ra ở miền quê
Bờ tre ruộng lúa vỗ về yêu thương.
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa | Su |
| 1 | ||||||
| 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 |
| 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 |
| 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 |
| 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 |
| 30 | 31 | |||||
Bản in











- Lúc 6 giờ sáng 18/4, tại km 127 quốc lộ 4D ( từ TP Lào Cai đi Sa Pa), chiếc xe du lịch loại 5 chỗ ngồi BKS 29Z-5591 đã bị lao xuống vực vì tránh... một đàn trâu.















